Phim phọt

Agnes Varda – Ánh trăng không lừa dối

Tám mươi tám tuổi, đứng cạnh một Angelina Jolie rạng rỡ, nhưng hôm đó, Agnès Varda mới là tiêu điểm. Sau khi nhận tượng vàng Oscar danh dự, người phụ nữ bé nhỏ mời Jolie nhảy waltz, và bà dẫn dắt Jolie trong điệu luân vũ như một thời đã từng dẫn dắt điện ảnh Pháp.

Năm 1955, khi Jean-Luc Godard vẫn còn đang tập tành làm những thước phim ngắn, Francoise Truffaut vẫn còn đang chặt chém thiên hạ trên mục phê bình của tờ Cahiers du Cinéma, Agnès Varda, hai mười nhăm tuổi, chưa từng xem quá mười bộ phim, tự nhận mình chẳng hiểu gì về điện ảnh, đã làm ra La Pointe Courte và tiên phong cho phong trào Làn Sóng Mới.

Chán ngấy cuộc hôn nhân bốn năm, một đôi vợ chồng trẻ đi tới một làng chài ở La Pointe Courte và đối thoại về cái gì thực sự là hạnh phúc. Xung quanh họ, đời sống những ngư phủ diễn ra bình thường, ngày này qua tháng nọ, có kẻ chết và có kẻ sống, có những đám ma diễn ra và có những đám cưới diễn ra.

Vừa đi đường, vừa nhặt chuyện

Nếu nước Pháp có Sartre là người đưa triết học xuống đường thì họ lại có Varda là người đưa điện ảnh xuống đường. Varda đi không xa, thường thì bà loanh quanh trong nước Pháp, xa hơn thì tới Los Angeles, nhưng kể cả có tới tận Los Angeles thì bà cũng chỉ loanh quanh trên phố phường và những ngõ ngách đó đây.

Một chiếc xe tải nhỏ, một phòng chụp ảnh di động cỡ lớn lấy ngay, một người bạn vong niên, một đôi mắt lão suy sắp mất đi ánh sáng, đó là tất cả những gì Agnes Varda có khi chạy bon bon qua những con đường ngoại ô, hai bên bạt ngàn rừng cây xanh mượt, tới những ngôi làng xinh xinh xứ đồng nội, gặp gỡ những con người vùng thôn dã, những nhân viên bưu điện, những công nhân, những nông dân, những người đang sống cuộc đời mà họ phải sống.

Bộ phim tài liệu Visages Villages (2017) ra đời từ chuyến đi đó, vừa đi, bà vừa chụp lại những người mình gặp, rồi in ảnh họ lên những tấm ảnh pano khổng lổ, những tấm ảnh vốn chỉ dành cho các chính trị gia lỗi lạc, các cô đào điện ảnh với làn da căng bóng, các nhân vật bóng bẩy luôn là thỏi nam châm hút các ống kính truyền thông. “Sartre nói địa ngục là kẻ khác, tôi không đồng ý, tôi yêu kẻ khác.”, Varda nói. Quả là bà rất thích con người, thích đến mức dù họ ở trong cái bộ dạng một anh nông dân lôm nhôm đang đi đốt những cái sừng dê, bà cũng vẫn cứ thích.

Nhưng đừng nghĩ quan sát gương mặt là đơn giản, Varda đã mất tới 17 năm để đi tới bước quan sát gương mặt người. 17 năm trước, cái bà quan sát là những con người cúi mặt xuống đất, và cứ tạm gọi đó là những người không lộ mặt đi. Les glaneurs et la glaneuse (2002) có lẽ là bộ phim tài liệu hay nhất thế kỷ 21 cho đến lúc này, nếu không phải hay nhất thì cũng phải nằm trong số 3 bộ phim hay nhất.

Bắt đầu từ những bức tranh của danh họa Millet về những người khom lưng lượm rơm sau mùa gặt, Varda (lại lên đường) đi tìm những con người hiện đại đang cúi xuống nhặt nhạnh những thứ trên mặt đất, họ có đủ thứ để nhặt, từ những củ khoai tây, những trái nho, cho đến thức ăn, rác rưởi. Varda kể về những người lượm lặt và chính bà cũng là một nhà làm phim lượm lặt.  Đi đến đâu, kể đến đấy, có gì thì kể nấy, có rác kể rác, có phố kể phố, có hoa kể hoa, khi không có gì thì kể chính mình.

Với chiếc camera cầm tay, bà quay những thước phim ngẫu hứng như một điệu nhạc jazz phi quy tắc, nhưng chẳng phải cuộc sống chính là một định đề bất quy tắc to đùng?

Điện ảnh phi điện ảnh

Đáng nói là, những bộ phim của Varda là một thứ điện ảnh rất phi điện ảnh. Đạo diễn Roman Polanski từng cho rằng: “Điện ảnh nên khiến cho người ta quên mất mình đang ngồi trong rạp chiếu bóng.”. Nhưng Varda thì không những nhắc cho khán giả, này, anh đang ngồi trong rạp chiếu bóng đấy, mà thậm chí còn nhắc, này, anh đã ngồi ở đây được một tiếng rồi.

Cléo de 5 à 7 (1962), một đỉnh cao của trào lưu Làn Sóng Mới, tái hiện cuộc đời một cô ca sĩ trẻ trong vòng một tiếng ba mươi phút, từ 5 giờ tới 6 rưỡi, khi cô chờ nhận kết luận cuối cùng của bác sĩ về việc liệu mình có mắc bệnh ung thư. Điều đặc biệt là Cléo de 5 à 7 cũng có thời lượng 90 phút, và cả bộ phim gần như hoàn toàn diễn ra trong thời gian thực, thành thử, Varda đã đưa vào việc xem phim một chiều kích mới, đó là sống thực sự với bộ phim.

Giới mộ điệu gọi Andrei Tarkovsky là một nhà thơ, vì vốn dĩ điện ảnh là thứ nghệ thuật mô tả thế giới bề mặt, nhưng phim của Andrei lại diễn giải nội trạng bên trong. Vậy thì nhất định phải gọi Varda là một nhà khảo cứu, bởi vì thay vì dùng 24 hình trên giây để vẽ vời những lời nói dối xinh đẹp, bà lại dùng nó để mô tả cuộc đời trong đúng một cái tích tắc của kim giây. Nghệ thuật là ánh trăng lừa dối với ai chứ với Varda thì không như thế.

Người ta tìm đến điện ảnh để đôi lúc bỏ lơ đời, còn bà thì cứ nhắc nhở người ta, kìa, cuộc đời đó, hãy yêu nó vì ta không bao giờ rời nó được. Hẳn là vì vậy mà dù đã hơn nửa đời người làm phim, đã đoạt bao nhiêu giải thưởng, “tôi đã đạt giải Sư Tử Vàng, Gấu Bạc, nhà tôi bày đày các con thú khác nhau”, nhưng bà vẫn luôn khó khăn mỗi khi tìm nhà tài trợ. Có lẽ, điện ảnh đôi khi nên biến báo một chút sẽ tốt hơn chăng?

Một điều thú vị, Agnès Varda là vợ của Jacques Demy, cố đạo diễn lừng danh của Những chiếc ô ở Cherbourg. Bà từng nói: ‘Trong số những người đã khuất, người tôi yêu nhất là Jacques Demy.’ Jacques mất năm 90. Chưa đầy một năm sau, Varda cho ra mắt bộ phim Jacquot de Nantes kể về tuổi thơ của Jacques. Trong phim ấy, có một cảnh bà lồng thước phim thật về Jacques những năm cuối đời, chỉ quay cận cảnh đôi tay, mái tóc của ông.

Một tình yêu chân thực, rốt cuộc chỉ có thể diễn tả bằng thứ điện ảnh không biết nói dối.

Hiền Trang

(Bài viết đã đăng trên báo Tuổi Trẻ)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *