Viết viếc

Dưới trời xanh, cỏ tự tươi thắm

Mến gửi J,

Hôm nay đi xem phim về, một bộ phim của Ba Lan. Có một đoạn khi người con gái nằm trong vòng tay của người con trai, và người con trai bắt đầu tưởng tượng về một ngày kia, khi họ có một ngôi nhà, một mảnh vườn, những đứa con, người con gái thủ thỉ hỏi:

– Rồi sao nữa?

Và người con trai đáp:

– Rồi sống bình thường thôi. Cuộc đời mà.

Lúc ấy tớ đã muốn khóc J ạ. Tớ tự hỏi tại sao mình vẫn còn ở đây, trong thành phố chật chội này, hít những làn khói từ những chiếc xe cồng kềnh như binh đoàn quái thú, và làm việc điên cuồng như thế nếu làm việc thì cuộc sống này sẽ có ý nghĩa hơn.

Tớ chán ngấy thành phố, chán đến tận cổ, nếu có thể chán đến đầu thì tớ cũng xin chán đến tận đầu. Tại sao người ta cứ phải đua nhau xây lên những tòa nhà cao tầng chọc đến tận mây? Với tớ thì chúng chẳng khác nào những tòa lô cốt, vừa hung hãn, vừa xấu xí. Và chúng lại che lấp cả sao trời J ạ.

Mười mấy năm trước, tớ nhớ mỗi đêm mình còn có thể leo lên mái nhà và ngắm sao. Sao chi chít. Tớ cầm một tấm  bản đồ sao, nhưng cuối cùng đến sao Bắc Đẩu tớ cũng chẳng rõ là ngôi sao nào. Nhưng giờ, bầu trời thành phố nơi tớ sống chỉ còn là một màn mịt mùng của bụi. Bụi bay đến trời. Câu chuyện của Daudet thế là chỉ còn nằm trên mặt giấy. Câu chuyện của Daudet ấy, J còn nhớ không? Câu chuyện về cậu bé chăn cừu và cô tiểu thư xinh đẹp. Họ ngồi bên nhau giữa một đêm trời đầy sao và cậu kể cho cô nghe truyền thuyết những ngôi sao. Đừng tưởng bọn sao chỉ biết đứng ì một chỗ kiêu sa, chúng cũng ghen tuông, yêu đương, chém giết, cũng y như con người vậy. Nếu thích, chúng còn làm đám cưới nữa, một đám cưới của những vì sao.

Rồi tớ nghĩ Van Gogh dù bất hạnh nhưng cũng còn hạnh phúc hơn chúng mình nhiều lắm. Ông ấy đã được thấy bao nhiêu sao trời lấp lánh. Bức “Đêm đầy sao” là minh chứng cho những đêm dài hạnh phúc của Van Gogh, khi được ngước mắt lên trời và ngắm nhìn những tinh thể lấp lánh xa xôi. “Bóng hình những vì sao khiến tôi mơ mộng”, ông nói thế đấy. Có phải vì thành phố này đã tuyệt chủng những ngôi sao mà chúng mình cũng thôi mơ mộng đúng không J? Ôi, thành phố này là một sa mạc, nhưng đáng tiếc thay mình lại chẳng phải xương rồng. Mình héo rũ và ủ dột và rệu rã như cát sỏi.

Cái thành phố ngày xưa nơi Vũ hẹn Quỳnh uống cà phê 2 hào buổi sáng với những gã giáo viên còm, nơi những người công nhân khốn khổ mà vẫn luôn tìm cách sống thanh thản trong nỗi khốn khổ, thành phố đó đã biến đi đâu? Tớ nhớ thành phố của Vũ rất nghèo. Nhưng cái thành phố nghèo ấy đã tan như một lớp khói bay, hòa vào lớp bụi đen sì của chiếc xe gắn máy, trôi theo gió.

Vũ sẽ dịu dàng hỏi Quỳnh: “Và chúng ta sẽ viết chứ, sợ gì em nhỉ?”

Nếu J cũng nói với tớ điều ấy, tớ sẽ nói ồ, sợ nhiều thứ lắm. Con chữ đôi khi bán rẻ cũng chỉ để nuôi thân. Chữ nghĩa thời buổi này có nghĩa lí gì đâu? Người ta cũng không thể xây thành phố bằng mấy vần thơ, mấy dòng truyện ngắn. Lúc nào cũng phải là tiền.

Ký ức đưa tớ về khu rừng nơi níu giữ tớ và J một chiều. Rừng gì, tớ không biết, chỉ biết là xanh. Và hàng ngàn con bướm bay dập dờn xung quanh hai đứa. Tia nắng cuối ngày óng ả. J cầm lấy tay tớ, ôm tớ thật chặt và nói:

– Tại sao chúng mình lại may mắn đến vậy. Cậu đừng bao giờ nói là chúng mình không may mắn.

Tớ nép vào vai J, gật đầu. Sao không chứ? Khi chứng kiến một cảnh hoàng hôn huy hoàng đến vậy, còn điều gì may mắn hơn? Nhưng cũng không kéo dài mãi mãi. Chia tay hoàng hôn, chia tay rừng, chia tay làng bản, bọn mình lại khăn gói về với cái thành phố ngột ngạt của mình. Tớ vẫn luôn so sánh thành phố với một tấm màn, và sống trong thành phố cũng giống như là đi ngủ mắc màn vậy. Dù tránh được những con muỗi háu ăn, nhưng lại không cảm nhận được cơn gió chuyển mùa phe phẩy, không thể thấy rõ những mảng ánh sáng hắt vào từ bậu cửa nhà ai trong đêm khuya khoắt. Đôi khi tớ chỉ muốn vứt quách cái màn ấy đi, để cho bọn muỗi cắn vào mình một cái.

Sống lâu ở thành phố, tớ nghĩ mình đã biến thành thịt hộp. Nhừa nhựa và nhạt thếch. Nằm ù lì trong ngăn lạnh. Mà không phải chỉ có tớ đâu, bao nhiêu người bươn bả trong thành phố là bấy nhiêu hộp thịt. Chỉ khác nhau một chút thôi. Kiểu thịt hộp bác sĩ, thịt hộp giáo viên, thịt hộp kinh doanh, thịt hộp kỹ sư, thịt hộp công nhân, thịt hộp giám đốc, như ở siêu thị có thịt lợn đóng hộp, thịt bò đóng hộp. Thành phần thì khác, nhưng cách bọn mình được chế biến giống như nhau cả.

Và chúng mình cứ nằm chềnh ềnh ở đó để đợi một ngày kia cuộc đời bóc ra và nuốt lấy chúng mình. Lúc ấy cuộc đời sẽ ca thán: “Sao cái bọn này ăn vô vị đến thế?”

Tớ cũng muốn sống khác đi lắm J ạ. Có một ngày tớ trốn làm ra hiệu sách. Cả chiều hôm ấy tớ đọc Nắp biển của Banana Yoshimoto. Tớ đọc một lần xong phải đọc lại ngay lần thứ hai. Truyện kể về một cô gái trẻ đã từ bỏ thành phố để về hòn đảo miền Nam sinh sống. Cô mua vài chiếc ô, vài bộ bàn ghế, và tại nơi nghe rõ tiếng những con sóng rì rầm, cô mở một tiệm đá bào nho nhỏ, bán những cốc đá bào thường, đá bào si-rô, đá bào espresso, mát lạnh một mùa hè. Ở cái chốn khỉ ho cò gáy ấy, tiền cũng chẳng để làm gì, nhiều tiền cũng chẳng để làm gì, cần gì tiền khi mà mình đã có tất cả những thứ tốt đẹp nhất trên thế gian: những đàn cá, những con ốc, con sò, những bờ nước mặn, ánh mặt trời rạo rực của những buổi sớm mai, một người bạn, một mối tình đầu. Tại sao người ta lại không thể chỉ sống như vậy thôi. Không bon chen xếch mé không sân hận. Tớ mãi mãi không thể nào hiểu được lí do cho sự mọc lên của những đô thị mới. Chúng ta nghèo quá, nghèo đến độ thứ duy nhất chúng ta có là tiền bạc.

Có những ngày, tớ đứng trước thiên nhiên bao la, những triền cỏ xanh um, những mảng rừng trái thông phủ dài mặt đất, tớ mới đột ngột ngâm lên câu thơ của Đỗ Mục:

Những việc phồn hoa đã tan theo lớp bụi thơm

Nước vô tình chảy, cỏ cứ tự tươi thắm

Cỏ cứ tự xanh mãi, có ai chăm bón, có đôi tay nào bắt nó phải xanh? Còn chúng ta, thế giới này của chúng ta, chói lọi nhường vậy nhưng không ai sống mãi. Những kẻ đã chết hàng ngàn năm qua và những kẻ sẽ chết trong hàng ngàn năm nữa. Chúng ta thật ngu ngốc, đã thấy biết bao thành quách, lầu đài nguy nga tráng lệ bị thời gian đốt bỏ, vậy mà cứ lì lợm đi xây mới những tòa nhà. Sẽ chẳng gì còn lại tới mai  sau đâu, chỉ còn những lớp cỏ cùng tháng năm vươn cành nhánh mãi.

Đến cả Lev Tolstoy cũng biết thế. Con người mà tên tuổi đời đời sử sách còn ghi chép, ngay cả ông cũng hiểu rằng chỉ tự nhiên là tất cả. Cứ đọc Chiến Tranh và Hòa Bình đi. Họ cứ mải miết đánh nhau, mải miết dàn trận, những ông hoàng lên ngôi rồi ngã ngựa, những kị binh ra trận và trở về (hoặc không trở về), những đế chế hưng thịnh và suy vi, một cuộc chiến đồ sộ như thế, những trí tuệ tinh tuyệt như thế, cuối cùng triết lý vẫn chỉ đúc kết nơi một lão nông già đầu cắm xuống đất, mông chổng lên trời, rằng cuộc sống chẳng gì hơn ngoài việc sống ở giây phút này, nhập vào những cánh đồng mênh mông, những vùng trời rộng lớn. Có điều chúng ta cứ mãi bị lừa phỉnh bởi những tập giấy lộn nhăn nhúm mà chỉ cần đốt là sẽ trở thành tro bụi, chúng ta cứ mãi bị lừa phỉnh bởi những tòa nhà vươn đến chân mây. Chúng ta vĩ đại ư? Chúng ta chẳng hề vĩ đại.

Chúng ta đã tiến hóa từ loài cá. Hàng triệu năm chúng ta đã bơi lội tung tăng giữa đại dương thăm thẳm. Con người đã sinh ra để vùng vẫy tự do giữa dòng nước mát xanh. Nhưng giờ đây, trong thời đại mà người ta gọi là công nghệ  bốn chấm không này, chúng ta ì ạch còn hơn cả một con vịt bầu, chúng ta ngồi trước máy tính, khi rời mắt khỏi máy tính, chúng ta lại nằm ườn xuống và dính vào điện thoại. Chúng ta lười biếng đến mức đôi khi còn không đủ sức để ra ngoài và mua một chiếc bánh bao. Chúng ta gọi người khác đem tới. Con người đã tiến hóa thành cái quái gì vậy?

Nếu J muốn biết tớ ao ước điều gì, tớ sẽ nói tớ chỉ muốn một căn nhà nơi điền dã. Tớ và J sẽ sống cùng nhau ở đó, ngày ngày chăm sóc cho những cây cà chua và luống rau muống. Tớ rất sợ sâu nên tớ sẽ để J đi bắt sâu. Hai ta sẽ cùng ngồi trên cái bè con con để câu cá trên dòng nước dịu êm, và đến tối sẽ nướng cá thơm phức trên than hồng, nghe tiếng rúc rích của những loài côn trùng đêm chốn đồng nội. Mùa hạ, chúng ta sẽ cùng nhau đi hái trái cây dại ven rừng, mang về ngâm vào nước rồi làm thành món mứt. Mứt trái cây dại còn thơm và ngọt mùi nắng xốn xang. Tớ sẽ mở những bản nhạc của Mozart và Bach. Hóa ra những thứ nhạc cổ điển ấy chẳng phải hay nhất khi biểu diễn trong những nhà hát mà hay nhất là khi được chơi giữa một khung trời mùa hạ. Còn đến mùa thu, chúng ta đi nhặt lá vàng rơi, để đầy trong những chiếc rổ đan tre, đợi đến mùa đông sẽ đốt lên sưởi ấm.

Biết là vậy, thế mà đến lúc J nói với tớ chính xác những điều đó, rằng chúng mình sẽ tìm một nơi nương náu thật xa khỏi khói bụi đô thành, tớ lại gạt đi. Sống trong cái lồng cũi này quen, tớ như đã biến thành một kẻ bị thuần hóa, như con chó phốc không thể nào còn tru lên vào những đêm sáng trăng giống tổ tiên sói của nó nữa rồi. Những thứ như trong câu chuyện Nắp Biển của Banana chỉ là một câu chuyện mà thôi. Banana hẳn đã ngồi ở thành phố mà viết ra câu chuyện ấy. Bởi chỉ những kẻ ở thành phố mới phải đau đáu về những điều xinh đẹp. Nếu Banana sống trong một trang viên, có lẽ bà sẽ chẳng hơi đâu mà viết. Có quà nhiều thứ để nhìn ngắm, hít hà mỗi ngày, chẳng cần gì đến chữ nghĩa vẩn vơ nữa.

Tớ đã có trong đầu tất cả mọi thứ về một cuộc sống êm lành. Giá như tớ có thể sống như những gì tớ đã viết ra. Giá như. Chỉ hiềm, cuộc đời đã cho ta một tâm hồn lãng mạn biết bay, lại lấy đi một chút lòng can đảm để bay lên cao vút.

Hiền Trang

(Đã đăng trên tạp chí Trà sữa cho tâm hồn)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *