Viết viếc

Một đối thoại nhỏ về hạnh phúc

– Này Pablo, đằng nào tôi cũng đã đi rồi, mình thẳng thắn một lần với nhau nhé. Những cô nàng ở Avignon anh vẽ để hồi đáp lại bức Niềm vui cuộc đời của tôi đúng không?

Giọng nói khàn mỏng như một tiếng gió xao xác rải hờ hững vào thinh không gõ nhẹ vào tai Pablo Picasso khi ấy đang gục bên bàn viết. 72 giờ qua, Pablo đã ở nguyên trong tư thế đó: đầu gối lên tay phải, tay trái buông thõng, một cây viết chì nằm lăn lóc dưới chân chứng tỏ trước khi gục xuống, Pablo đang viết lách một điều gì. Pablo nhướn một bên mắt, nhìn lên, chẳng có ai, chẳng có gì thay đổi.

Pablo vẫn đang ở đây, nơi phòng vẽ tranh bề bộn của mình, một căn phòng rộng lớn lắm mà cũng chật hẹp lắm. Rộng và nguy nga với lối kiến trúc theo kiểu một tòa lâu đài thời cổ. Nhưng hẹp vì quá nhiều tranh, quá nhiều màu vẽ, những giá vẽ, những tấm canvas, những bức tượng, phù điêu chồng chất lên nhau. Cuộc đời của Pablo đóng khung trong đó. Một ngày kia, khi Pablo ra đi, nó sẽ là tất cả những gì Pablo để lại, ý nghĩ này luôn khiến Pablo ngỡ ngàng, rằng những bức tranh kia – thứ mà Pablo tạo ra, chúng sẽ còn lại, Pablo thì biến mất. Người ta sẽ tra vấn được cả những dấu tay, những mảnh tóc còn vương, thậm chí cả mùi hơi thở của Pablo phả vào tranh, nhưng Pablo, lúc đó Pablo sẽ ở đâu? Thế giới này thật là kỳ dị. Vậy mà họ luôn nói tranh của Pablo kỳ dị. Làm sao mà tranh của Pablo kỳ dị bằng cuộc đời kia chứ?

Những con người đó thật kỳ dị. Thật kỳ dị. Kỳ dị hết chỗ nói. Kỳ dị.

– Vẫn còn ngái ngủ sao anh bạn? Dạo này vẽ những gì rồi?

Giọng nói khàn mỏng lại vang lên. Lần này rõ ràng lanh canh như tiếng gõ vào một món đồ gỗ. Pablo choàng tỉnh, mở cả hai mắt, ngồi thẳng dậy, nhìn quanh.

Đang đứng đó. Phía bên kia, ngay gần ô cửa sổ, dưới ánh trăng lợt lạt màu xám bạc như gương mặt một bóng ma, gương mặt của Henri Matisse. Ngoại trừ làn da tái bợt, Henri vẫn không đổi khác là bao. Vẫn đôi mắt xanh da trời, không dữ dội bất kham như màu xanh trong bức Điệu nhảy mà năm xưa đã khiến giới phê bình được một phen nghiêng ngả, màu xanh trong mắt Henri tĩnh lặng, như thứ mực xanh lắng thành cặn dưới đáy một ly nước mát. Và điều khiến Pablo ngạc nhiên là Henri lúc này rất trẻ, chắc chỉ tầm 20 tuổi, nhiều nhất là 25.

– Lạ phải không? Đó là một lợi thế khi anh chết. Anh thoát khỏi thân xác già cỗi và ngoại hình trở lại những năm tháng huy hoàng của tuổi trẻ. – Henri nói, như đoán được mọi suy nghĩ trong lòng Pablo.

– Xem ra chết cũng có cái hay của nó nhỉ? – Pablo nhếch mép cười.

– Chứ sao. Hồi còn sống tôi đã vẽ Niềm vui cuộc đời, còn bây giờ tôi vẽ Niềm vui cuộc chết. Cái bọn chưa chết thật chẳng biết gì, cứ tô vẽ cái chết như một con ngáo ộp. Nhảm nhí hết.

– Nhìn anh bây giờ, ai mà nghĩ anh đã từng yêu cuộc sống thế nào.

– À, cuộc sống thì vẫn yêu chứ. Được thì tôi cũng xin cho mình sống lại. Nhưng không được thì thôi, nói chung tình trạng hiện giờ cũng không có gì để phải phàn nàn.

Pablo nhớ lại lần đầu khi gặp Henri, tháng 3 năm 1906, dạo đó là mùa xuân, Pablo lúc ấy chỉ là một anh chàng lôi thôi, bồng bột, hay cáu giận, vốn tiếng Pháp ít ỏi, phát âm đặc sệt tiếng Tây Ban Nha vùng Málaga. Còn Henri thì đã thành danh, có phần kiểu cách, thanh lịch như một quý ông. Họ gặp nhau qua sự giới thiệu của Gertrude Stein. Gertrude đã nói gì nhỉ? Đã mấy chục năm trôi qua, ký ức cứ ngỡ sẽ mãi vững chắc như bàn thạch, hóa ra chỉ là những bao tải cát chảy trào ra, bay vào hư không. Hình như Gertrude bảo: “Pablo, chắc cậu biết rồi, đây là Henri Matisse, phải, chính là Henri, con dã thú của ngành hội họa.”.

– Gertrude thế nào? – Pablo buột miệng hỏi. Gertrude mất trước Henri cả chục năm. – Anh gặp bà ấy không?

– Vẫn tốt. Chúng tôi vẫn gặp nhau luôn.

– Vẫn tốt? Thế nào là vẫn tốt? Ở dưới đó mà cũng có tốt với không tốt hả? – Pablo châm chọc.

– Được rồi. Lần này anh thắng. Mà thôi, quay lại chuyện kia đi. « Những cô nàng ở Avignon » ấy, tôi không tin anh vẽ nó mà không nghĩ tới « Niềm vui cuộc đời » ở trong đầu.

Khi vẽ Những cô nàng ở Avignon, Pablo đã biết nó sẽ là một bước ngoạn mục của hội họa, những hình khối của nó vượt qua cả những gì Cezanne có thể tượng tượng ra, một cuộc cách mạng thực sự. Và quả nhiên, bức tranh đã tiên phong cho một trường phái mới mang tên lập thể và đưa Pablo trở trành tượng đài không thể xô đổ.

– Khách quan mà nói, Pablo ạ, đó là một bức tranh khá đấy. Nhưng cá nhân tôi thì không thích nó. – Bóng ma của Henri Matisse ngồi vào chiếc ghế đối diện với Pablo.

– Tôi hiểu, anh không thích những bức tranh với hình thù vặn vẹo, méo mó.

– Vặn vẹo, méo mó không phải là vấn đề, Pablo, anh biết mà.

– Thế tại sao nào?

– Nó nhức nhối quá Pablo ạ. Nhức nhối quá. Hội họa đừng nên quá nhức nhối. Hội họa giống như cuộc đời. Cuộc đời không nên quá nhức nhối. Cho nên hội họa cũng đừng nên như vậy. – Henri trầm ngầm. – Mà này, anh có chút rượu nào không? Một người bạn đến thăm mà tới rượu cũng không mời, anh coi tôi là gì hả?

Pablo đứng dậy, đi ra khỏi phòng một lúc rồi trở lại với một chiếc khay, một chai vang đã vơi một nửa cùng hai ly rượu. Vừa từ từ rót rượu ra ly, Pablo vừa nói:

– Anh nói đúng, Henri. Cuộc đời chẳng nên nhức nhối chút nào. Nhưng cuộc đời là một tay cứng đầu, anh bảo nó đừng nhức nhối nữa, thế mà nó cứ cố tình nhức nhối. Anh chẳng biết làm gì để khuyên răn nó. Anh biết tại sao có một dạo tôi luôn dùng màu xanh làm chủ đạo không?

– Thời kỳ Xanh của anh ấy hả? Thế tại sao, anh nói tôi nghe.

– Tôi bắt đầu dùng màu xanh khi nghe tin Casagemas mất. Người bạn thân nhất của tôi. Cậu ấy mới 20 tuổi. Tôi cũng 20 tuổi. Anh có bao giờ nghĩ đến chuyện một người 20 tuổi cầm súng tự nã vào người mình không? Anh có tưởng tượng ra điều đó không?

Mặt Pablo đỏ gay gắt. Một nỗi buồn tưởng chừng đã nguôi ngoai nửa thế kỷ bỗng chốc bừng lên như một ngọn núi lửa thức giấc trong Pablo. Nhưng Henri vẫn điềm nhiên:

– Lydia cũng từng làm vậy. Vì tôi. Chỉ có điều cô ấy may mắn hơn anh bạn Casagemas kia, cô ấy không chết.

Nghe tới đó, Pablo ngập ngừng hỏi:

– Lydia là cô người mẫu mắt xanh của anh ấy hả?

– Ừ.

Cả hai cụng một ly rượu. Pablo nhấp môi, chất rượu chát hương nho Tây Ban Nha thu hoạch độ cuối thu.

– Pablo này, con gái tôi từng bị Đức quốc xã bắt vào trại tập trung ở phía Bắc Berlin. Tôi thì mắc bệnh nặng. Phẫu thuật xong tôi phải ngồi xe lăn 13 năm. 13 năm. Đến lúc chết tôi cũng chết trên xe lăn. Anh nghĩ xem cuộc đời tôi có nhức nhối không? Có những đêm tôi trằn trọc suy nghĩ, bây giờ tôi phải đối mặt với cuộc sống thế nào? Tôi phải làm gì đây? Tôi phải tiếp tục thế nào đây?

– Và anh cầm kéo lên, tạo ra những bức tranh cắt.

– Làm tranh cắt chỉ là hình thức, Pablo ạ. Tôi tự hỏi mình, bây giờ làm gì đây? Và câu trả lời của tôi: bây giờ, phải hạnh phúc.

Pablo vẫn giữ một bản tập sách Jazz của Henri, một tuyển tập những bức tranh cắt mà Henri đã làm trên giường bệnh. Pablo vẫn nhớ một bức tranh tên Icarus với nền xanh và một hình người màu đen đang giang đôi tay thật rộng, xung quanh là những đốm vàng rực mà Pablo luôn nghĩ đó là hình những trái mìn đang nổ. Không phải nơi Henri sống lúc đó đầy quân Đức ư? Henri muốn náu mình khỏi chiến tranh, nhưng chiến tranh không tha cho anh ấy.

– Trong bức Icarus, những đốm vàng rực mà anh vẽ là mìn hả? – Pablo lên tiếng hỏi.

– Không, là những vì sao đấy. Icarus đi bắt sao. Tôi không vẽ chiến tranh. Tôi chẳng liên quan gì tới nó. Tại sao chỉ vì chiến tranh diễn ra quanh tôi mà tôi phải than khóc, phải vẽ chiến tranh? Như thế thì rập khuôn lắm.

Henri là vậy. Một mình một kiểu chẳng giống ai. Chiến tranh đẫm máu như vậy mà Henri vẫn điềm nhiên vẽ người đi bắt sao, rồi vẽ những khung cửa sổ, vẽ cỏ cây, vẽ những con cá đỏ chót bơi tung tăng trong bể nước, ánh nắng tràn vào tranh của Henri, góc trời bừng sáng, cuộc đời căng mọng, sum suê. Henri vẽ những căn nhà với những tấm rèm, những tấm thảm sặc sỡ, xinh tươi, người chủ của những căn nhà ấy hẳn là rất yêu đời, chỉ khi yêu đời người ta mới trang hoàng nhà cửa. Chán đời người ta đã chẳng thiết.

– Tôi ước sao có thể ôm lấy cuộc sống một cách thắm thiết như anh, Henri ạ.

– Pablo, luôn có hoa cho những kẻ muốn nhìn chúng. – Henri Matisse mỉm cười.

– Nhưng anh có thực sự hạnh phúc không Henri? Có thực sự hạnh phúc như những bức tranh anh vẽ không Henri?

Bóng ma của Henri đứng lên, đi dạo lòng vòng trong phòng tranh của Pablo, ngắm nghĩa tỉ mẩn những món đồ trong phòng, nâng chúng lên rồi lại đặt chúng xuống, như thể chúng gợi cho Henri nhắc tới những món đồ của chính mình, những món đồ đã theo Henri cả đời, hoặc là Henri đã theo chúng cả đời, chỉ cái chết mới có khả năng chia lìa Matisse với chúng.

– Tụi mình nghĩ gì không quan trọng đâu Pablo. Tôi luôn cố gắng để khi nhìn tranh tôi, người ta sẽ thấy một tia nắng hân hoan của mùa xuân, một tia nắng tự nhiên không giả tạo, và không ai có thể thấy những nỗi đau mà tôi đã phải đánh đổi để tiếp tục vẽ.

– Nếu thế thì mục đích của hạnh phúc là gì? Nếu như nó chỉ là một niềm vui bề mặt, nếu như bản thân anh không thực sự hạnh phúc?

– Ai nói tôi không thực sự hạnh phúc nào, Pablo? Tôi đem đến hạnh phúc cho những người xem tranh của tôi, họ xem tranh mà như được ngồi trên một chiếc ghế tựa thật êm, quên sạch  đi những niềm đau bươn bả đè lên vai họ, rồi tôi cũng vờ như tôi đang hạnh phúc. Có lẽ anh không tin, nhưng thực thế, khi anh vờ như mình hạnh phúc, dần dần, anh quên mất là mình đang giả vờ. Cái này cho tôi giữ được không?

Chợt Henri quay ra, tay cầm một chiếc tượng nhỏ mà Pablo thu nhặt được ở một buổi triển lãm về Phi châu. Cả Henri và Pablo đều có thói quen nhặt nhạnh những món đồ lặt vặt.

– Nếu mang theo được thì anh cứ lấy. Mà Henri này, chẳng giấu anh làm gì, Những cô nàng ở Avignon đúng là lời hồi đáp tôi dành cho anh và Niềm vui cuộc đời đấy.

– Tôi biết từ lâu rồi. – Tay mân mê bức tượng, Henri đáp.

– Ừ. Tôi muốn mỉa mai anh. Lần đầu nhìn thấy tranh của anh, tôi đã nghĩ: Gã này khùng rồi, niềm vui cuộc đời cái chết tiệt. Có biết bao nhiêu người đang chết đói ngoài kia không? Thế mà anh ta vẽ cứ như cuộc đời là thiên đường vậy. Cho nên tôi vẽ Những cô nàng ở Avignon, méo mó, xẹo xọ, đấy mới đích thực là cuộc đời.

– Anh nói phải, Pablo. Cuộc đời nào phải thiên đường.

– Biết vậy mà anh vẫn vẽ nó như là thiên đường ấy.

– Là tranh thôi mà, Pablo, là tranh thôi, đừng cho là thật. Nào, cho tôi ly nữa. Uống cho đã vào, Pablo. Dưới kia không có đâu. Hãy nghe lời những người đi trước.

***

Hai năm sau cái chết của đối thủ lớn nhất và cũng là người bạn tri kỷ Henri Matisse, danh họa Pablo Picasso lần lượt vẽ bốn bức tranh đều mang tên Phòng tranh ở La Colifornia. Cả bốn bức tranh đều vương vấn hình ảnh Matisse. Một bức tranh có bóng ma của Matisse. Một bức tranh khác có hình hai cây cọ đứng cạnh nhau như tượng trưng cho hai người họ.

Tôi không biết liệu Matisse và Picasso có một cuộc chuyện trò sau khi Matisse qua đời hay chăng, nhưng nếu có, tôi nghĩ hẳn nó phải diễn ra như thế.

Bức họa cuối cùng trong đời Picasso, Tự họa khi đối mặt với Tử thần, là một bức tranh buồn.

Hiền Trang

(Bài viết đã đăng trong Trà sữa cho tâm hồn)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *