Văn vẻ

Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối: Cho tới ngày thanh xuân nói: “Xong rồi. Để mặc đi”

Những chiếc lá khô rơi rụng tơi bời 
Lấy xẻng gom cả vào trong kỷ niệm

Bây giờ mới bắt đầu vào hạ, nhưng mình đã nằm nghe Les feuilles mortes. Cũng có khi không phải là nằm nghe trước cho mùa thu năm nay, cũng có khi là giai điệu ấy đã rơi rớt trong mình từ mùa thu năm ngoái. Rơi rớt tới tận lúc này.

Mình từng nói rằng những thứ của Pháp luôn rất Pháp. Chúng luôn chất ngất một mối tình cảm nào đấy, luôn có cùng một thanh điệu và một dấu chấm cảm. Nhưng biết đâu đấy, nhỡ tại mình chẳng biết gì nhiều về Pháp nên mới đánh đồng như thế.

Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối

Tạm cho mình là đúng, thế thì…

Sợi dây hồi tưởng của người Pháp rất dài, kéo mãi, kéo mãi mà không hết. Khi người Mỹ mơ về Paris những năm 20, người Paris những năm 20 lại mơ về Paris thế kỷ 19, và người Paris của thế kỷ 19 lại lưu luyến về Paris của thời kỳ Ánh sáng. Họ luôn có một cái gì đấy để hoài niệm, để tiếc nuối. Hoa lệ của thời đại dù có lộng lẫy thế nào, dù cho Hemingway, Picasso, Dalí, Stein, Man Ray đã đổ cả về phía họ, thì cũng không khiến họ ấn tượng bằng quá khứ đã xa.

Quãng đời 20 tuổi là quãng đời người ta quyến luyến nhất với quá khứ. Không phải là 30 tuổi hay 70 tuổi, mà là  20 tuổi. Chỉ có tuổi 20 mới đủ bải hoải và ngây thơ, chỉ có tuổi 20 mới đủ thời gian và  vô dụng, chỉ có tuổi 20 mới đủ buồn bã và bất mãn, chỉ có tuổi 20 mới đủ thất vọng và sụp đổ, chỉ có tuổi 20 mới muốn nhốt mình trong tòa ốc hư vô của quá khứ phù mộng. Sau tuổi 20, người ta sẽ chán ngán với u ảnh quá khứ và vứt chúng vào cái sọt rác mang tên “bồng bột tuổi trẻ”.

Cho nên, tốt nhất, nếu có thời gian, hãy mang bên mình những cuốn sách của Patrick Modiano khi còn trẻ.

Dans le café de la jeuness perdue

Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối

Một tựa đề đủ để rung động một phím đàn ủ rũ ngân nga. Giống như những bản nhạc jazz một thời vang lên trong chiếc đĩa than quay đều của Dean Martin, Nat King Cole, Frank Sinatra… Chúng ta đều đã từng như thế. Trẻ và lạc lối.

Đến đây, mình phải thú thực một điều, bạn sẽ không tìm thấy cái gì mang tính review hay kể cả na ná review trong bài viết này. Thật đấy, vì câu chuyện diễn ra như thế nào, mình đã kịp đọc và đã kịp quên rồi.

Gần như mình đọc theo kiểu nghiền ngẫm những con chữ của Modiano hơn là nghiền ngẫm cốt truyện như một trò chơi đuổi bắt trong đó kẻ chạy trốn thì trốn chạy một cách hờ hững còn những kẻ đuổi theo thì theo đuổi một cách lãnh đạm. Và sau khi đọc đến quyển sách thứ 3 của ông , mình tin rằng, cái còn lại trong những cuốn sách mỏng tang đó, không phải là những con người, mà chỉ là những nơi chốn. Những nơi chốn dày đặc, đan xen nhau, chồng chất lên nhau, vùi lấp những số phận, vùi lấp những niềm vui và những niềm đau, san bằng nỗi cô độc, khỏa lấp những chỗ trống mà những nguyên lí triết học đi tìm. Nơi chốn là bất di bất dịch. Còn con người chỉ là những điểm chấm lưu động, đi lại và biến mất.

Nói chung là như thế, mình chẳng còn nhớ cụ thể gì về câu chuyện. Mình chỉ nhớ ba điều. Điều đầu tiên là trong truyện, một người đàn ông đã cố gắng ghi chép lại tên của tất cả những người đã tới quán cafe. Chỉ để thôi không lạc lối. Anh ghi lại thời điểm họ đến và thời điểm họ đi. Chỉ để chắc rằng họ đã thực sự từng tồn tại. Bước chân họ từng ngang qua đây, uống một ly whiskey, tán gẫu những chuyện trên trời dưới biển, rời đi, trở lại, rời đi, trở lại, rời đi, và không bao giờ trở lại. Nỗ lực của anh xem ra được đền đáp một chút gì đó, vì bắt đầu từ nó, quãng thời gian đã khuất dần lật mở. Nhưng cuối cùng, khi đi đến tận cùng con đường, người ta mới phát hiện ra, rốt cuộc, quá khứ vẫn chỉ là một ngõ cụt. Phía bờ bên kia bức tường, là một nơi không thể nào đặt được chân tới.

Đó là một chuyện rất buồn cười. Trong số cả triệu người đã đi qua cùng một nơi, có bao nhiêu người đã đi qua cùng một nơi vào cùng một thời điểm? Và trong số những người đã đi qua cùng một nơi vào cùng một thời điểm ấy, có bao nhiêu người thực sự sẽ đi tiếp với nhau một con đường ngắn nữa trước khi rẽ về hai ngả? Có bao nhiêu người?

Mình từng nghĩ sẽ tới Auvers-sur-Oise, đi qua cánh đồng lúa mạch nơi Vincent đã vẽ những cánh quạ đen bay trên nền trời xanh dữ dội, nơi ông đã tự kết liễu mình bằng một phát đạn vào ổ bụng. Nhưng liệu mình có bao giờ thực sự gặp được Vincent hay không? Rất nhiều người đã đi qua đó nhưng không ai gặp được Vincent. Sau này cũng sẽ không có ai gặp được. Ba chiều thời gian vẫn thế, nhưng vẫn còn chiều thứ tư là thời gian không bao giờ tương hợp. Rồi kể cả khi chiều thứ tư đã tương hợp, các nhà khoa lại nói, có thể còn tới mười mấy chiều không gian ẩn giấu. Gặp nhau rất khó, gặp lại nhau lại càng khó, chia tay thì rất dễ.

Cái kiểu của Dans le cafe de jeuness perdue là như thế, những con đường chỉ có từng ấy, bước chân người này dẫm lên bước chân người kia, một cuốn sách trong hiệu đã qua tay bao nhiêu người, một cô gái mà ai cũng từng quen, một bóng ma ai cũng từng ám ảnh, một Paris ai cũng từng trôi dạt trong đó, nhưng không ai thực sự quen ai. Chúng ta có rất nhiều điểm chung, nhưng chúng ta chẳng có gì chung cả. Chúng ta không nhất thiết cần đến thứ thuốc hóa học của Griffin trong The invisible man để có thể khiến chúng ta trở nên vô hình, bởi vì chúng ta đã bao giờ hiện hình đâu? Chúng ta vẫn luôn vô hình, vô hình trong mắt nhau, vô thanh, vô sắc, biến mất vào lịch sử, biến mất không để lại một dấu tích nào.

Điều thứ hai của cuốn sách này nằm lại trong mình, là “những chân trời đã mất”. Nằm lại không vì lí do gì hết. Hình như nó là tên một cuốn sách họ đã từng đọc. Họ là ai mình cũng quên luôn từ bấy. Mình không biết tại sao người ta đặt tên nó như vậy. Những chân trời đã mất, đã mất có nghĩa là đã từng có, phải vậy không? Nhưng chưa ai có thể có được những chân trời, cho nên không ai có thể mất nó. Có một thứ rồi đánh mất, hay không bao giờ có để không bao giờ phải đánh mất, cái gì tốt hơn nhỉ? Dù sao, mình nghĩ, những chân trời cũng nên ở thật xa để không ai với được tới. Một số thứ không bao giờ nên thành hiện thực, như những giấc mơ chẳng hạn. Khi một giấc mơ thành hiện thực, nó sẽ không còn là một giấc mơ nữa. Mình không biết đâu là điều tốt nhất, nhưng chắc chắn rằng điều tệ nhất là khi một giấc mơ không còn là một giấc mơ.

Có một lần, hình như là hồi Glenn Frey mất nếu mình nhớ không nhầm, trên BBC Culture có một bài báo bình luận về ý nghĩa của khách sạn trong văn hóa đại chúng. Đại khái nói là khách sạn luôn xuất hiện trong phim ảnh, âm nhạc và văn học như một nơi chốn rất kỳ quái, một hầm trú ẩn cho những kẻ lang thang, kể cả khi có tiếng nổ súng khắp hành lang, những căn phòng khách sạn vẫn sẽ đóng cửa im ỉm và không có gương mặt nào ló ra ngoài nhìn cả. Cánh cửa khách sạn chặn đứng thế giới bên ngoài và khép kín thế giới bên trong. Không ai biết đằng sau nó là gì. Nếu để ý kỹ, quán cafe cũng có một hình tượng kiểu kiểu như vậy. Một quán cafe bao giờ cũng đại diện cho những gặp gỡ tình cờ, những cơn mưa dài ngoài cửa sổ đón đợi một ai, những cuộc trò chuyện dông dài bỏ quên cuộc sống, những ồn ã tách bạch với ồn ã trên những đại lộ và ngã tư, những uể oải chôn giấu của tuổi trẻ, những ánh đèn vàng chôn giấu thân phận, những mơ tưởng điên rồ không bao giờ được thực hiện, những lời lẽ ngông cuồng không bao giờ được nói ra ở một nơi khác. Tại quán cafe, họ đem tới những nỗi buồn và bỏ chúng lại đó. Khi họ cảm thấy khá hơn, họ sẽ rời đi.

Và điều cuối cùng khiến mình ghi nhớ trong câu chuyện của Modiano, đó là cái chết của cô gái mà ai cũng tìm kiếm. Đúng hơn là, lời cuối cùng nàng nói:

“Xong rồi. Để mặc đi!”

Cứ như là nàng đã đi hết tất cả những con đường của Paris, đọc hết những cuốn sách trong một hiệu sách, tham gia vào những bữa tiệc quên ngày tháng, hẹn hò và yêu đương, kết hôn và bỏ trốn, mọi thứ, chỉ để đợi cái giây phút này, giây phút nàng có thể trèo qua lan can và nhảy xuống. Quãng đời từ khi sinh ra đến khi chết đi chỉ là một ô trống để người ta lấp đầy bằng vạn triệu những thứ khác nhau: âm nhạc, Vincent Van Gogh, Thiên Chúa, ngân hàng, bánh bích quy, thời trang, tuyết, bóng đá, quần vợt, Broadway, hướng dương, những chuyến đi, cầu nguyện, mua sắm, hoài niệm, triết học của Aristotle, hiệu sách, tự vẫn,… tất cả chỉ đều để lấp đầy cái ô trống đó. Lấp đầy bao nhiêu, hay không lấp chút nào, thì điểm cuối cùng vẫn đã được định trước là vậy. Hóa ra mọi thứ chúng ta làm, đều chỉ là làm trong lúc đợi đến lượt mình nhận được nụ hôn của Thần Chết.

Hãy đừng hỏi tại sao nàng lại chết. Mặc dù có vẻ giống như là nàng đã chết để kết thúc một cuộc đời nhạt nhẽo. Có vẻ giống như nàng là một nạn nhân của sự cô độc và phiêu bạt. Có vẻ giống như nàng là một hệ quả của lứa tuổi thiếu niên đã lớn lên mà không có điểm tựa. Nhưng sao mình vẫn thấy tất cả những lý giải mình đọc được đều có gì đó sai sai. Không, nàng không chết vì bất cứ điều gì trong số những điều ấy. Chỉ là nàng chết, và thế thôi.

Như hôm qua mình đã viết: Paul hát Yesterday, trong lúc đó, John chơi guitar, nhìn Paul và cười, Elvis cười khúc khích khi hát Are you lonesome tonight, Kurt nhìn thế giới qua đôi mắt xanh lơ rất buồn trên Rolling Stone, Leslie biếng nhác nằm cuộn tròn ngủ yên trong ánh nắng mùa hè, Marilyn rạng rỡ cầm tấm ảnh Lincoln trên chiếc xe mui trần màu đen bóng loáng… Tất cả những ký ức đó đều đã chết, chẳng phải vì lí do gì to tát cả, chỉ vì chúng đều là những ký ức thanh xuân, chỉ bởi vì thanh xuân đều phải chết, nếu không chúng sẽ già đi.

Và cho tới ngày thanh xuân nói: “Xong rồi. Để mặc đi”, chúng ta còn có thể làm gì, ngoài việc cứ bình thản để cho tuổi trẻ lạc lối?

Một vài giấc mơ thành sự thật
Một vài giấc mơ khác trôi qua
Một vài giấc mơ ở lại
Bên trong quán cafe rất buồn
Có lẽ thời gian đã vẽ lên những gương mặt tôi hằng ghi nhớ
Nhưng đời chẳng mấy khi thay đổi
Và nếu chúng có đổi thay
Cũng đừng phí công hỏi tại sao như vậy
Nó đơn giản là đã diễn ra như thế
 Cho nên em hãy gặp tôi đêm nay
Bên trong quán cafe rất buồn
Hay là em hãy gặp tôi đêm nay nhé?
Bên trong quán cafe rất buồn
Hiền Trang

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *