Dịch

[Truyện ngắn] Fyodor Dostoevsky: Giấc mơ của một gã kỳ quặc

I.

Tôi là một gã kỳ quặc. Giờ thì họ gọi tôi là một gã điên. Nó sẽ là một lời ngợi khen nếu không phải là tôi vẫn tiếp tục tỏ ra kỳ quặc chẳng khác gì trước kia trong mắt họ. Nhưng hiện tại tôi không còn oán trách chuyện này, họ nay đều thân thương với tôi, kể cả khi họ cười vào mặt tôi – và, hẳn nhiên, chỉ khi đó  họ mới đặc biệt thân thương với tôi. Tôi có thể cùng cười với họ – không hẳn là tự cười mình, mà nhờ lòng mến yêu dành cho họ, nếu như tôi không buồn bã tới thế khi nhìn họ. Buồn bã bởi họ đâu biết chân lý còn tôi thì biết. Ôi chao, nhọc làm sao khi chỉ mình ta biết chân lý! Nhưng họ sẽ chẳng hiểu đâu. Không, họ sẽ chẳng hiểu cho điều đó.

Hồi trước tôi vẫn thường đau khổ khi mình dường như là người kỳ quặc. Không phải dường như, mà chính thế. Tôi đã luôn luôn kỳ quặc, và tôi cũng đã luôn luôn nhận thức được điều đó, có lẽ, từ giây phút tôi ra đời. Hẳn là từ khi lên bảy tôi đã biết tôi kỳ quặc. Sau đó tôi đi học, lên đại học, và, bạn biết không, học càng nhiều, càng sâu, tôi càng biết là tôi kỳ quặc. Thế là sau tất cả, cứ như thể mọi môn khoa học tôi nghiên cứu tại trường đại học tồn tại chỉ nhằm chứng minh và làm sáng tỏ cho tôi hay, khi tôi đi sâu hơn vào tìm tòi chúng, rằng tôi kỳ quặc. Đời thì cũng như khoa học. Mỗi năm, sự nhận thức về bộ dạng kỳ quặc mà tôi tạo nên trong mọi mối quan hệ càng trở nên vững chắc và được củng cố. Mọi người lúc nào cũng cười tôi. Nhưng chẳng một ai trong số họ biết hoặc đoán được rằng, nếu thế gian này có ai biết rõ hơn hết thảy rằng tôi kỳ quặc thì người ấy chính là tôi đây, và thứ làm tôi oán thán nhiều nhất chính là chuyện họ không biết điều đó. Nhưng đó là lỗi của tôi; tôi quá kiêu hãnh thành ra chẳng gì có thể khiến tôi kể điều này cho người khác. Sự kiêu hãnh lớn dần lên trong tôi theo năm tháng; và nếu có lần nào mà tôi cho phép mình thú nhận với một ai đó rằng tôi kỳ quặc thì tôi tin là tôi cũng sẽ bắn bay óc mình trong cùng buổi tối ngày hôm đó.  Ôi chao, làm sao mà thời trai trẻ tôi có thể chịu đựng nỗi sợ rằng tôi có thể đầu hàng và thú nhận chuyện này cho bọn bạn học của mình. Nhưng từ khi trưởng thành, tôi đã, không rõ vì đâu, trở nên bình thản hơn, dẫu cho tôi càng ngày càng hiểu được bản chất tồi tệ của mình. Tôi nói “không rõ vì đâu”, bởi tới tận hôm nay tôi cũng chẳng biết là bởi vì đâu hết. Có thể là bởi nỗi đau khổ khủng khiếp lớn lên trong tâm hồn tôi nhờ vào điều đã để lại lên tôi nhiều hậu quả hơn bất cứ điều gì khác: và đó chính là lời phán quyết đã nhảy bổ vào tôi rằng thế giới này chẳng có gì quan trọng. Tôi đã nghi ngờ  chuyện này từ lâu, nhưng sự thức tỉnh toàn vẹn chỉ xảy ra vào  năm ngoái một cách gần như là đột ngột. Tôi đột nhiên nhận ra với tôi thì thế giới có tồn tại hay chưa từng bao giờ tồn tại cũng như nhau cả: tôi bắt đầu cảm nhận được với toàn bộ sự tồn tại của mình rằng chẳng có gì tồn tại. Đầu tiên, tôi tưởng tượng rằng đã từng có rất nhiều thứ từng tồn tại trong quá khứ, nhưng sau rốt tôi lại đồ rằng chưa từng có thứ gì trong quá khứ hết cả, mà chỉ vì một vài lí do nên trông có vẻ như đã từng có gì đó. Từng chút một, tôi đoán cũng chẳng có gì trong tương lai luôn. Rồi tôi thành ra tức giận với mọi người và gần như thôi không quan tâm tới họ. Quả nhiên chuyện này được thể hiện trong cả những tình tiết vớ vẩn nhất: chẳng hạn, tôi dùng nó để đối phó với nhưng người trên phố.  Và không mấy khi tôi lạc bước trong mớ nghĩ suy: tôi phải nghĩ về cái gì đây? Tôi đã gần như từ bỏ việc suy nghĩ vào thời điểm đó; chả có chi đáng kể đối với tôi. Giá như tôi đã giải quyết được chí ít một vấn đề của bản thân! Ôi chao, tôi đã chẳng  làm nên cơm cháo gì, và có bao nhiêu vấn đề như thế! Nhưng tôi đã thôi không còn để ý tới mọi thứ, và mọi vấn đề tan biến.

Và chính là sau đó mà tôi tìm ra chân lý. Tôi tìm ra chân lý vào tháng Mười một năm ngoái – vào ngày ba tháng Mười một, nói cho chính xác – và kể từ đó tôi vẫn nhớ từng giây cái sự kiện ấy. Nó diễn ra vào một buổi tối ảm đạm, một trong những tối ảm đạm nhất có thể có trên đời. Tôi đang đi về nhà vào khoảng mười một giờ, và tôi nhớ là tôi đã nghĩ rằng tối nay chẳng thể nào ảm đạm hơn thế. Kể cả xét về mặt lý tính. Mưa trút cả ngày, và đó là một trận mưa lạnh lẽo, mịt mù, đến mức có vẻ hung hăng, mà tôi nhớ là, mang một sự thâm độc chống lại loài người không lẫn đi đâu được. Bỗng vào khoảng từ mười đến mười một giờ thì mưa tạnh, và nối tiếp là một bầu không khí ẩm ướt kinh hoàng, còn lạnh hơn và ẩm hơn cả cơn mưa, và đại khái hơi nước bốc lên từ vạn vật, từ từng hòn đá trên đường và từ những lối nhỏ xa nhất mà ta thấy được. Một suy nghĩ thoạt hiện lên trong tâm trí tôi, rằng giả tất cả những ngọn đèn mà tắt đi thì có khi lại đỡ u ám hơn, rằng khí gas khiến trái tim ta thêm sầu muộn bởi nó đã soi sang hết thảy cảnh vật này. Hôm đó tôi gần như chưa ăn tối và đã dành cả buổi với một tay kĩ sư, cùng hai người bạn nữa cũng có mặt ở đó. Tôi ngồi trầm lặng – tôi thích cái cảm giác tôi làm họ phát ngấy. Họ nói chuyện gì đó rất kích thích rồi đột nhiên họ trở nên phấn khởi. Nhưng họ thực sự cũng chẳng quan tâm đâu, tôi có thể nhìn ra điều đó, và chả qua họ chỉ đang vờ vĩnh như mình phấn khích lắm mà thôi. Tôi bỗng nói điều đó cả họ. “Các bạn tôi”, tôi bảo, “các bạn chả quan tâm quái gì chuyện ấy.” Họ không cảm thấy bị xúc phạm mà lại cười vào mặt tôi. Đó là bởi tôi nói mà chẳng có vẻ cau có gì, bởi đơn giản là nó chả can gì đến tôi. Họ thấy nó chả can hệ gì đến tôi, và điều này chọc cười họ.

Khi tôi đang nghĩ về những chiếc đèn gas trên phố thì tôi nhìn lên trời. Trời tối khiếp, nhưng ta vẫn có thể thấy rõ những quầng mây rách rưỡi, và chen giữa chúng là những đốm đen thăm thẳm. Bỗng tôi phát hiện ra một trong những đốm đen ấy là một ngôi sao, và tôi bắt đầu chăm chú ngắm nó. Thì bởi ngôi sao ấy đem lại cho tôi một ý tưởng: tôi quyết định sẽ tự sát đêm nay. Tôi đã quyết chắc sẽ làm chuyện này hai tháng trước, và dù nghèo, ngày hôm đó tôi đã mua một khẩu súng  lục tuyệt đỉnh, và lên đạn cho nó. Nhưng hai tháng trôi qua mà khẩu súng lục vẫn nằm trong tủ của tôi; và tôi quá thờ ơ đến mức tôi muốn nắm lấy một khoảnh khắc khi mà tôi không quá ơ thờ – vì sao, tôi chả biết. Và hai tháng qua đêm nào về nhà tôi cũng nghĩ tôi sẽ thủ tiêu mình. Tôi cứ đợi đến thời điểm thích hợp. Và giờ thì ngôi sao kia đã đem tới cho tôi một suy nghĩ. Tôi quyết định nhất định phải là đêm đó. Và tại sao ngôi sao kia lại kích thích một suy nghĩ trong tôi thì tôi chả hiểu.

Và khi tôi đang nhìn bầu trời thì một cô bé con kéo khuỷu tay tôi. Đường trống không, và hầu như chả có ai hết. Cách đó không xa một người đánh xe đang ngon giấc trong chiếc xe của mình. Đó là một đứa trẻ tám tuổi với một chiếc khăn quấn trên đầu, chẳng mặc gì ngoài một chiếc váy nhỏ sũng nước mưa, nhưng tôi để ý kỹ nhất là đôi giày ướt nhoẹt tơi tả của em và tôi vẫn còn nhớ chúng đến tận hôm nay. Chúng đặc biệt lọt vào mắt tôi. Cô bé bỗng kéo khuỷu tay tôi và gọi tôi. Cô bé không rơi nước mắt, nhưng thét lên mấy từ mà cô không thể nào nói rõ nên lời, vì toàn thân em đang run rẩy và rúng động. Em đang khiếp đảm chuyện gì đó, và cứ thế khóc: “Mẹ, mẹ!” Tôi quay ra đối mặt với cô bé, tôi chẳng nói câu nào và tiến bước, nhưng em chạy theo kéo lấy tôi, và có một nốt nào đó trong giọng của em mà khi phát ra từ những đứa trẻ đang hãi sợ thì nó hàm nghĩa sự tuyệt vọng. Tôi biết âm thanh đó. Dẫu em không thể nói năng liền mạch, tôi hiểu rằng mẹ em sắp chết, hoặc đại để một chuyện gì kiểu vậy đang xảy ra với họ, và cô bé phải chạy đi tìm một ai đó, tìm một cái gì đó có thể cứu mẹ em. Tôi không đi với cô bé; ngược lại, tôi mong đuổi cô bé đi, đầu tiên tôi bảo cô bé đi kiếm cảnh sát. Nhưng nắm chặt hai bàn tay, em chạy bên tôi nỉ non và hổn hển và không chịu rời tôi ra. Thế là tôi giậm chân và quát vào mặt em. Cô bé van nài: “Thưa Ngài, thưa ngài!…” nhưng rồi đột nhiên bỏ tôi lại và cắm đầu chạy băng qua đường. Một lữ khách khác đang ở đó và hẳn nhiên cô bé chạy khỏi tôi để tìm đến gã ta.

Tôi leo lên tầng năm. Tôi có một phòng trong căn hộ nơi có cả những người thuê khác. Phòng tôi bé và nghèo nàn, với một cửa sổ gác xép hình bán nguyệt. Tôi có một chiếc sofa phủ da Mỹ, một chiếc bàn với sách để trên, hai chiếc ghế và một chiếc ghế bành dễ chịu, tuy cổ lỗ, nhưng là loại tốt. Tôi ngồi xuống, châm nến, và bắt đầu suy nghĩ. Trong phòng cạnh phòng tôi, qua bức tường ngăn cách, một vụ nhốn nháo toàn hảo đang diễn ra. Nó đã diễn ra từ suốt ba ngày nay. Một đại úy đã nghỉ hưu sống ở đó, và ông có khoảng một tá các vị khách, những quý ông với danh tiếng đáng ngờ, họ uống vodka và chơi bài stoss. Đêm trước đó đã có một vụ tẩn nhau, và tôi biết hai quý ông trong số đó đã giật tóc cấu xé nhau trong một khoảng thời gian dài. Bà chủ nhà muốn than phiền, nhưng bà có một nỗi sợ hãi hèn hạ đối với ông đại úy. Chỉ có duy nhất một người thuê khác trong căn hộ, một nữ sĩ quan gầy guộc nhỏ bé, đang trên đường tới thăm Petersburg, cùng ba đứa con nhỏ đã ốm đau từ khi họ tới trọ ở đây. Cả cô và lũ trẻ đều sợ chết khiếp ông đại úy, và họ nằm run rẩy, trở mình cả đêm đó, và một đứa bé nhất bị co giật vì sợ. Ông đại úy kia, tôi biết sự thật là, thi thoảng chặn người đi đường trên phố Nevsky Prospect và xin đểu. Họ không quan tâm đến ông ta, nhưng lạ là (chính lẽ đó nên tôi mới kể chuyện này), cả tháng rồi ông ta ở đây mà hành vi của ông ta chẳng hề gây cho tôi phiền toái. Tôi, đương nhiên, cố gắng tránh quan hệ với ông ta ngay từ đầu, và ông ta, cũng chán tôi ngay từ khi ấy; nhưng tôi chả thèm quan tâm họ chửi nhau ở phía bên kia bức tường hay bọn họ có mấy tay: tôi ngồi cả đêm và quên tiệt họ hoàn toàn đến mức tôi chẳng còn nghe thấy tiếng họ nữa. Tôi thức đến tận bình minh, và đã như vậy suốt cả năm qua. Tôi ngồi cả đêm trên chiếc ghế tựa tại bản, không làm gì hết. Tôi ngày ngày chỉ đọc sách. Tôi ngồi – không cả nghĩ; những thứ từa tựa như ý tưởng lưu lạc qua trí óc tôi và tôi cứ mặc cho chúng đến và đi tùy ý. Cả một ngọn nến bị đốt cạn mỗi đêm. Tôi ngồi im lìm nơi chiếc bàn, lấy ra khẩu súng lúc và đặt nó trước mặt mình. Khi tôi đặt nó xuống và tự vấn bản thân, tôi nhớ lại: “Phải thế không?”, và trả lời với sự đoan chắc hoàn toàn. “Chính thế.”. Chính thế, tôi sẽ tự bắn mình. Tôi biết là tôi nhất định nên bắn mình hôm đó, nhưng tôi nên ngồi đây trên chiếc bàn này bao lâu nữa tôi cũng không rõ. Và chẳng nghi ngờ gì rằng tôi nên tự bắn mình nếu chẳng vì cô bé kia.

 

II.

Bạn thấy đấy, dù chả việc gì quan trọng với tôi, tôi vẫn có thể cảm nhận được nỗi đau, chẳng hạn vậy. Nếu có ai đó đâm vào tôi thì điều đó cũng làm tôi đau. Với đạo đức cũng như vậy: nếu có chuyện gì bi thương diễn ra, tôi cũng cảm thấy động lòng  trắc ẩn như những ngày xưa cũ khi có những chuyện thực sự quan trọng với tôi. Tôi đã cảm thấy động lòng trắc ẩn vào tối hôm đó. Tôi lẽ ra phải giúp đỡ đứa trẻ ấy. Tại sao, khi đó, tôi lại không giúp cô gái nhỏ? Bởi một ý nghĩa đã hiện lên trong tôi vào lúc đó: khi cô bé gọi và kéo tôi, một câu hỏi đột khởi nhào lên trước mắt tôi và tôi không sao trả lời được nó. Đó là một câu hỏi vô nghĩa, nhưng tôi thấy lo âu. Tôi lo âu vì viễn cảnh nếu tôi định tự sát vào đêm ấy thì đáng nhẽ chẳng có gì trên đời được có ý nghĩa với tôi. Tại sao bỗng dưng tôi không còn thấy không còn gì đáng kể và thấy thương hại cho cô bé con? Tôi nhớ là tôi đã thực sự thương hại em, thương hại vô cùng đến nỗi tôi cảm thấy một cơn đau kỳ lạ, thật vô lý trong tình trạng của tôi. Quả thực tôi không biết phải diễn tả sao sự khích động thoáng qua lúc ấy, nhưng sự khích động ấy vẫn lưu tồn cả khi tôi đã về nhà và ngồi bên chiếc bàn, và tôi thấy bực vì sau bao lâu mà tôi vẫn không vượt qua được sự khích động ấy. Những chiêm nghiệm nối liền chiêm nghiện. Tôi thấy rõ ràng rằng chừng nào tôi còn là một con người và chưa thành hư vô thì tôi sẽ còn sống và có khả năng chịu đựng, có khả năng tức giận hay hổ thẹn về hành động của mình. Cho nên phải thế. Nhưng nếu tôi tự sát, trong vòng hai tiếng nữa, cứ cho là vậy, thế thì cô bé kia là gì đối với tôi và tôi phải làm gì với sự hổ thẹn hay với bất cứ thứ gì trên cõi đời này? Tôi sẽ hóa ra hư không, hư không toàn tập. Và liệu điều này có đúng không, rằng sự nhận thức mà tôi sẽ hoàn toàn hủy diệt ngay tức khắc và mọi thứ khác cũng sẽ ngưng tồn tại, liệu chúng có tác động tới, dù chỉ một tẹo teo, cảm xúc và nỗi thương xót mà tôi dành cho đứa trẻ, hay cảm nhận về sự hổ thẹn về những hành vi đáng khinh miệt của tôi? Tôi đã giậm chân và gào thét vào đứa trẻ bất hạnh như thể muốn nói  – không những tôi chẳng thấy thương cảm mà kể cả nếu tôi hành xử thiếu nhân tính và đáng tởm thì tôi cũng có quyền tự do làm điều đó, bởi chỉ hai tiếng nữa thôi mọi sự sẽ tan tành. Bạn có tin rằng đó chính là lí do mà tôi đã gào lên? Tôi giờ đây  đã gần như bị thuyết phục bởi điều đó. Có vẻ với tôi đã rõ ràng rằng cuộc đời và thế giới một cách nào đó phụ thuộc vào tôi. Tôi giờ có thể nói rằng thế giới này dường như được tạo ra cho mình tôi: nếu tôi tự bắn chết mình, thế giới sẽ ngưng lại ít nhất là với tôi. Tôi không nói rằng chẳng còn gì sẽ tồn tại cho mọi người khi tôi ra đi, và rằng một khi nhận thức của tôi tan biến thì cả thế giới cũng sẽ tan biến và trở thành một chân không như một bóng ma, như thể một món phụ kiện của tâm trí tôi, bởi có khả năng là toàn bộ thế giới này và toàn bộ những con người này là dành cho tôi. Tôi nhớ là khi tôi ngồi và ngẫm ngợi, tôi đã nghĩ về những câu hỏi tràn ngập hết câu này tới câu kia theo một cách khác, và nghĩ đến một điều khá mới mẻ. Chẳng hạn, một suy nghiệm đột ngột hiện ra với tôi, rằng nếu tôi đã sống trên mặt trăng hay trên sao hỏa và phạm phải một trong những chuyện ô nhục bất lương nhất mà nỗi hổ thẹn và sự ghê tởm ta chỉ có thể thấy trong mơ, trong những cơn ác mộng, và nếu, sau đó tôi lại thấy mình sống trên trái đất, tôi có khả năng nhớ lại những ký ức về những gì tôi đã làm trên các hành tinh khác, và khi nhìn từ mặt trăng từ trái đất – tôi có nên để tâm hay không? Tôi có nên thấy xấu hổ vì chuyện đó hay không? Đây là những câu hỏi vô nghĩa và thừa thãi khi mà khẩu súng lục đã ở đó sẵn sàng trước mặt tôi, và tôi biết trong từng thớ thịt của sự tồn sinh rằng nó chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng những câu hỏi đó kích động tôi và làm tôi nổi đóa. Tôi không thể nào chết ngay lúc này mà trước tiên không giải quyết một số chuyện. Nói ngắn gọn, đứa bé đã cứu sống tôi, bởi tôi đã bỏ khẩu súng sang bên chỉ vì những câu hỏi này. Trong khi đó, những tiếng ì xèo đã bắt đầu lắng xuống trong căn phòng của viên đại úy: họ đã chơi xong xuôi và chuẩn bị đi nằm, và trong lúc đó cằn nhằn và uể oải kết thúc cuộc cãi vã. Ở thời điểm đó tôi đột nhiên rơi vào giấc ngủ trên chiếc ghế cạnh bàn – một điều chưa từng bao giờ diễn ra trước đó. Tôi ngủ mà chẳng hay biết gì.

Những giấc mơ, như ta đều biết, là những tạo vật quái đản: một vài phần hiện lên với sự sống động đáng kinh ngạc, với những chi tiết được tạo tác tỉ mẩn như những chuỗi trang sức, trong khi một vài phần chỉ trượt qua, như nó vốn vậy, mà chúng ta chẳng nhận ra, như là, chẳng hạn, trượt qua không gian và thời gian. Những giấc mơ hình như được thúc đẩy không phải bởi lí trí mà bởi ham muốn, không phải bằng cái đầu mà bằng quả tim, và dù vậy, thật tinh vi làm sao những ngón nghề mà lí trí của tôi đôi khi đã chơi đùa trong những giấc mơ, thật khó hiểu làm những thứ đã xảy ra cho nó! Anh trai tôi chết năm năm trước, chẳng hạn, tôi đôi khi mơ về anh, anh tham gia vào  những việc làm ăn của tôi, chúng tôi rất vui thú, nhưng mặc dù thế trong suốt giấc mơ tôi biết và nhớ rằng anh tôi đã chết và đã được chôn cất. Làm sao mà tôi không ngạc nhiên rằng, mặc cho anh đã qua đời, anh vẫn đang ở đây bên tôi và làm việc với tôi? Tại sao lí trí của tôi hoàn toàn cho phép chuyện này? Nhưng đủ rồi, tôi sẽ bắt đầu về những giấc mơ của mình. Vâng, tôi đã mơ một giấc mơ, giấc mơ của tôi vào ngày ba tháng Mười một. Giờ họ cợt tôi, nói rằng đó chỉ là giấc mơ thôi. Nhưng liệu có quan trọng không rằng nó là mơ hay thực, nếu giấc mơ đã nói cho tôi biết chân lí? Nếu một khi ta nhận ra chân lí và nhận chân nó, ta biết nó là chân lý và không có chân lý nào khác và không thể có chân lý nào khác, dù ta đang ngủ hay đang thức. Hãy để nó là một giấc mơ, cứ thế đi, nhưng cái cuộc đời thực mà ngươi chiếm thật nhiều phần còn ta đã định hủy diệt nó bằng sự quyên sinh, và giấc mơ của ta, giấc mơ của ta – ôi chao, nó hé lộ cho ta một cuộc đời khác, mới mẻ, to lớn và đầy sức mạnh!

Hãy lắng nghe.

 

III.

Tôi đã đề cập việc tôi rơi vào giấc ngủ mê mệt và dường như vẫn ngẫm ngợi về những chủ đề đó. Tôi bỗng mơ thấy tôi nhặt lên khẩu súng lụcc và nhằm thẳng nó trái tim mình – trái tim tôi, không phải đầu  tôi, và tôi đã định trước đó là sẽ bắn vào đầu, thái dương phải. Sau khi nhắm vào ngực, tôi đợi một đôi giây, và đột nhiên cây nến của tôi, bàn tôi, và bức tường trước mặt tôi bắt đầu chuyển động và nổi sóng. Tôi vội bóp cò.

Trong mơ bạn thi thoảng ngã từ trên cao, hay bị đâm, hay bị đập, nhưng bạn chẳng bao giờ thấy đau trừ phi, có lẽ, bạn thực sự va vào thành giường, thế là bạn thấy đau và gần như thức giấc. Nó cũng tương tự vậy trong giấc mơ của tôi. Tôi chả thấy đau gì, nhưng vẻ như với phát đạn mọi thứ bên trong tôi ngả nghiêng và mọi thứ mờ đi, và xung quanh tôi bóng đen nhân lên khủng khiếp. Tôi như bị mù và trở nên trì độn, và tôi đang nằm trên một cái gì đó cứng, trải dài trên lưng; tôi không thấy gì, và cũng không động cựa được tí tẹo nào. Mọi người đang đi lại và thét lác quanh tôi, viên đại úy gầm gào, bà chủ nhà ré lên – và đột nhiên lại một khoang nghỉ nữa và tôi được bê đi trong chiếc quan tài đóng kín. Và tôi cảm nhận được chiếc quan tài đang rung lên ra sao và tôi nghĩ về nó, và lần đầu tiên hiện lên trong tôi ý nghĩ rằng tôi đã chết, chết queo, tôi biết thế và tôi chẳng ngờ vực gì nữa, tôi không thể nhìn cũng không thể nhúc nhích vậy mà tôi vẫn đang cảm nhận và vẫn đang suy tư. Song gần như ngay đó tôi hòa nhập vào bối cảnh, như người ta vẫn hay làm trong mơ, tôi chấp nhận thực tế mà không tranh cãi về nó.

Và nay tôi đã bị chôn trong đất. Mọi người đã ra đi, chỉ tôi còn nằm lại một mình, hoàn toàn một mình. Tôi không cử động. Bất cứ lúc nào trước đây mà tôi đã từng tưởng tượng về cảnh bị chôn, một trong những cảm xúc mà tôi gán với  nầm mồ cũng là sự ẩm ướt và lạnh lẽo. Nên giờ tôi thấy tôi rất lạnh, nhất là những đầu ngón chân, nhưng tôi không cảm thấy gì khác.

Tôi nằm yên, lạ là tôi chẳng chờ đợi gì, chấp nhận mà không tranh luận rằng một người chết không có gì để chờ đợi. Nhưng trời ẩm. Tôi không biết thời gian đã qua bao lâu – dù là một tiếng, hay vài ngày, hay rất nhiều ngày. Nhưng bỗng một giọt nước rơi trên mắt trái tôi đang khép, nó đã chui qua nắp quan tài; và một phút sau đó là giọt thứ hai, rồi một phút sau đó là giọt thứ ba – và cứ thế, liên tục từng phút. Tự nhiên sáng lên trong tim tôi một sự phẫn nộ sâu thăm thẳm, và tôi chợt thấy một cơn đau vật lý. “Đó là vết thương của mình”, tôi nghĩ, “đó là viên đạn…” Và từng giọt từng giọt sau mỗi phút cứ rơi trên mi mắt tôi nhắm nghiền. Và bỗng, không phải bằng giọng nói của tôi, không phải bằng sự hiện thân của tôi, tôi gọi lại sức mạnh đã chịu trách nhiệm cho tất thảy những gì xảy đến với mình.

“Dù ngươi là ai, nếu người tồn tại , và nếu như một điều gì đó có lí hơn những gì đang xảy ra ngay đây là khả thể, hãy để ta chịu đựng nó liền bây giờ. Nhưng nếu ngươi đang trả thù ta vì cuộc tự sát vô nghĩa bằng sự gớm guốc và sự phi lý của sự tồn tại tiếp nối này, vậy hãy để ta cho người biết, rằng không một sự tra tấn nào sánh ngang được sự khinh miệt mà ta sẽ còn câm lặng cảm nhận, dầu cho sự hiến tế này kéo dài cả triệu năm!”

Tôi đưa ra lời kháng cáo và giữ lấy sự bình yên. Có đến cả một phút im lìm khôn nguôi và rồi lại một giọt nước rơi, nhưng tôi biết với sự chắc chắn tuyệt đối không thể dịch chuyển rằng mọi thứ sẽ đổi thay ngay đấy. Và chứng kiến ngôi mộ của tôi đột nhiên bể ra làm đôi, tôi không biết là nó được mở ra hay được đào lên, nhưng tôi bị bắt giữ bởi một sinh thể đen tối vô danh và chúng tôi lơ lửng giữa không gian. Tôi thốt nhiên phục hồi thị giác. Đó là đêm tối mịt, và chưa từng, chưa từng có bóng tối nào như thế. Chúng tôi bay qua những  tầng không xa khơi ngoài trái đất. Tôi không hỏi gì sinh thể đang đưa tôi đi; tôi kiêu hãnh và chờ đợi. Tôi trấn an bản thân rằng tôi không sợ, và tôi phấn chấn ngất ngây trước suy nghĩ rằng tôi không sợ. Tôi không biết chúng tôi bay bao lâu, tôi không tưởng tượng nổi; nó diễn ra như cách nó vẫn luôn diễn ra trong mơ khi ta nhảy cóc qua không thời gian và những định luật về suy tư và tồn tại, và chỉ dừng lại tại những điểm nơi trái tim mong ngóng. Tôi nhớ là tôi bỗng thấy trong bóng tối một vì sao. “Là sao Sirius ư?”, tôi bốc đồng hỏi, dẫu tôi đã định không hỏi bất cứ câu nào.

“Không, đó là ngôi sao mà ngươi đã thấy giữa những đám mây khi ngươi về nhà.”, sinh thể đang đưa tôi đi trả lời.

Tôi biết nó có một cái gì đó giống như mặt người. Lạ là, tôi không thích sinh thể đó, kỳ thực tôi cảm nhận được một sự ác cảm tột độ với nó. Tôi đã mong chờ một sự phi tồn tại hoàn chỉnh, và đó là lí do tôi bắn viên đạn xuyên tim. Và giờ tôi ở đây trong tay một sinh thể chẳng phải người, dĩ nhiên, nhưng vẫn sống, vẫn tồn tại. “Và vậy là có cuộc sống sau cái chết”, tôi nghĩ với sự nhẹ dạ kỳ lạ mà ta thường có trong những giấc mơ. Nhưng ở tầng đáy sâu nhất của trái tim tôi vẫn không thay đổi. “Và nếu tôi được tồn tại trở lại”, tôi nghĩ “và sống thêm một lần nữa dưới sự kiểm soát của một thế lực không thể cưỡng lại, tôi sẽ không  bị đả bại và hạ nhục.”

“Ngươi biết là ta sợ ngươi và ta khinh ta vì điều đó,” tôi bỗng nói với người đồng hành, không thể tránh khỏi câu hỏi nhục nhã ám chỉ một lời thú tội và cảm thấy sự sỉ nhục đâm vào trái tim tôi như một cái ghim. Nó không trả lời câu hỏi của tôi, nhưng bất thình lình tôi cảm thấy nó còn không cả khinh tôi, mà nó cười nhạo tôi và không có tí nào thương cảm với tôi, và rằng chuyến du hành với mục tiêu bí ẩn này chỉ can tới mình tôi. Nỗi sợ lớn lên trong tim tôi. Cái gì đó nín lặng và đau đớn giao tiếp với tôi qua người đồng hành im tiếng, và thấm qua toàn bộ sự hiện tồn của tôi. Chúng tôi bay qua bóng đêm, những vùng đất vô danh. Tôi đôi khi mất dấu những chòm sao thân thuộc với mắt mình. Tôi biết rằng có những ngôi sao trên thiên giới với ánh sáng mất cả nghìn cả triệu năm mới tới được trái đất. Có lẽ chúng tôi đã bay qua những thiên giới đó. Tôi chờ đợi một cái gì đó với nỗi khốn khổ kinh khủng hành hạ trái tim tôi. Và chợt tôi bị kích động bởi một cảm giác quen thuộc đã bùng cháy những phần sâu xa nhất trong tôi: tôi thấy mặt trời  của chúng ta! Tôi biết rằng nó không thể là mặt trời của chúng ta, thứ đem lại sự sống cho địa cầu của chúng ta, và rằng chúng tôi cách xa một quãng vô tận với mặt trời, nhưng vì một lí do nào đó mà với toàn bộ sự tồn tại của mình tôi biết rằng đó là một mặt trời hệt như mặt trời của chúng ta, một bản sao của nó. Một cảm xúc ngọt ngào, sướng vui vang lên với niềm ngây ngất trong tim tôi: sức mạnh quyến thuộc của cùng thứ ánh sáng đã từng đem cho tôi ánh sáng dấy lên một tiếng vang nơi tim tôi và đánh thức nó, và tôi có một cảm giác về cuộc đời, cái cuộc đời cũ trong quá khứ, lần đầu tiên kể từ khi tôi nằm trong mộ.

“Nhưng nếu đó là mặt trời, nếu như đó đích thị giống như mặt trời của chúng ta”, tôi khóc, “đâu là trái đất?”

Và người đồng hành chỉ vào ngôi sao nhấp nháy xa xa với thứ ánh sáng màu lục bảo. Chúng tôi đang bay đến nó.

“Và những sự lặp lại như vậy là khả thể trong vũ trụ ư? Đó có thể là luật định của Tự nhiên không?… Và nếu có một quả đất ở đó, liệu nó có thể giống như quả đất của chúng ta… giống y, cũng nghèo túng, cũng bất hạnh, cũng quý giá và thương miến mãi mãi, khơi dậy nơi những đứa con vô ơn của nó thứ tình yêu cay đắng dành cho nó như chúng ta vẫn thường cảm thấy đối với trái đất của mình?”, tôi thét lên, bị rúng động bởi niềm yêu không thể cưỡng chế, say mê dành cho quả đất thân thuộc mà tôi đã rời khỏi. Hình ảnh về đứa trẻ đáng thương mà tôi đã từ khước lóe lên trong óc tôi.

“Ngươi sẽ thấy tất cả”, người đồng hành nói, và có một chút gì chua xót trong giọng nó.

Nhưng chúng tôi nhanh chóng áp sát hành tinh kia. Nó phình lên trước mắt tôi, tôi đã có thể nhận ra những đại dương, hình dáng của Âu châu, và đột nhiên một cảm giác của sự ghen tuông vĩ đại và thần thánh sáng bừng trong tim tôi.

“Làm thế nào nó có thể lặp lại và lặp lại để làm gì? Tôi yêu và chỉ có thể yêu trái đất nơi tôi đã rời bỏ, nơi nhuộm máu, cyar tôi,  khi mà, trong sự vong ân, tôi đã dập tắt cuộc đời mình bằng một viên đạn xuyên tim. Nhưng tôi chưa bao giờ, chưa bao giờ hết yêu trái đất, và có lẽ vào chính đêm tôi chia tay với nó là lúc tôi yêu nó hơn bao giờ hết. Liệu có đau khổ trên trái đất mới này không? Trên trái đất của chúng ta, chúng ta chỉ có thể yêu với nỗi đau và qua nỗi đau. Chúng ta không thể yêu theo cách nào khác, và chúng tabiết không có loại tình yêu nào khác. Tôi muốn đau khổ để có thể yêu. Tôi thèm muốn, khao khát, ngay lúc này, được hôn trong nước mắt quả đất mà từ đó tôi đã rời đi, và tôi không muốn, tôi sẽ không chấp nhận cuộc sống  ở bất cứ nơi nào khác! ”

Nhưng người đồng hành đã rời bỏ tôi. Tôi đột nhiên, hoàn toàn không nhận ra làm thế nào, tôi thấy mình ở địa cầu này, dưới ánh sáng rực rỡ của một ngày nắng rạng ngời, trong trẻo như thiên đường. Tôi tin rằng tôi đang đứng trên một trong những hòn đảo đã tạo nên quần đảo Hy Lạp trên quả địa cầu của chúng ta, hoặc trên bờ biển vùng đất liền đối diện với quần đảo đó. Ôi chao, mọi thứ đều chính xác như  trên trái đất, chỉ là mọi thứ dường như mang sự rộn rạo tưng bừng, sự huy hoàng của những chiến công vĩ đại, thánh thiện mà cuối cùng người ta đã đạt tới. Biển âu yếm, xanh như ngọc lục bảo, khẽ tung bọt lên bờ cát và hôn bờ cát với một tình yêu rõ rành, gần như có ý thức. Những cái cây cao lớn, đáng yêu đứng trong sự vinh quang của tán hoa và vô số những chiếc lá của chúng đón mừng tôi, tôi chắc chắn, với tiếng sột soạt mềm mại, ve vuốt và dường như đang cất lên những tiếng yêu thương. Thảm có bừng sáng với những đóa hoa rực rỡ và ngát hương. Chim bay thành từng đàn trong không trung và đậu một cách vô ưu trên vai và cánh tay tôi và vui vẻ gõ lên tôi bằng đôi cánh thân thương, rung rinh của chúng. Và cuối cùng tôi đã thấy và quen biết những cư dân của vùng đất hạnh phúc này. Họ đến với tôi, họ vây quanh tôi, hôn tôi. Những đứa trẻ của mặt trời, những đứa trẻ của mặt trời của họ – ôi chao, chúng thật đẹp làm sao! Chưa bao giờ tôi thấy trên trái đất của chúng ta vẻ đẹp nhường ấy nơi nhân loại. Có lẽ chỉ tồn tại vẻ đẹp ấy nơi những đứa trẻ của chúng ta, chỉ trong những năm đầu tiên ra đời là ta có thể tìm thấy một số phản ảnh mờ nhạt, xa xôi của vẻ đẹp đó. Đôi mắt của những người hạnh phúc này tỏa sáng rực rỡ. Khuôn mặt của họ bừng nở với ánh sáng của lý trí và sự thanh thản đến từ sự hiểu biết hoàn hảo; trong lời nói và giọng nói của họ mang nét vui ca như trẻ con. Ôi chao, từ giây phút đầu tiên, từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã hiểu ra tất cả! Đó là trái đất chưa được khai sinh bởi sự Sụp đổ, nơi đó là nơi sống của những người chưa từng phạm vào tội lỗi. Họ sống trong một thiên đường như vậy, nơi mà theo như tất cả những truyền thuyết của loài người, những tổ tiên đầu tiên của chúng ta đã sống trước khi họ phạm vào tội ác; sự khác biệt duy nhất là tất cả trái đất này là một thiên đường như nhau. Những người này, cười vui vẻ, vây quanh tôi và vuốt ve tôi; họ đưa tôi về nhà với họ, và mỗi người trong số họ cố gắng trấn an tôi. Ôi chao, họ không hỏi tôi gi hết, nhưng dường như, tôi tưởng tượng, họ biết tất cả mọi thứ mà không cần hỏi, và họ vội vã muốn làm dịu đi những dấu hiệu về sự đau khổ trên khuôn mặt của tôi.

 

IV.

Và bạn biết không? Ừm, cho rằng đó chỉ là một giấc mơ đi, nhưng sự khích động của tình yêu nơi những con người thơ ngây và tốt đẹp đó đã ở lại trong tôi vĩnh viễn, và tôi cảm thấy như thể tình yêu của họ vẫn tràn đến với tôi từ nơi ấy. Tôi đã tận mắt thấy họ, đã quen họ và đã bị thuyết phục; tôi đã yêu họ, tôi đã chịu nỗi đau vì họ sau đó. Ôi chao, tôi hiểu ngay tắp lự rằng kể cả khi ấy, trong nhiều chuyện tôi cũng không hiểu gì về họ; như thể một người Nga cấp tiến và một Petersburg đáng khinh, điều làm tôi ngạc nhiên khó lí giải là, dù hiểu biết thế, nhưng họ, chẳng hạn, không có các môn khoa học như chúng ta. Nhưng tôi sớm nhận ra kiến thức của họ được thu nhặt và bồi đắp thông qua những trực giác khác với chúng ta những người sống trên trái đất, và rằng những khát vọng của họ cũng khá khác biệt. Họ chẳng cầu mong điều gì và sống trong an ổn; họ không mong mỏi hiểu biết về cuộc đời như ta mong am tường nó, vì cuộc sống của họ đã đủ đầy. Nhưng kiến thức của họ cao hơn và sâu hơn của chúng ta; vì môn khoa học của chúng ta tìm kiếm sự giải thích về cuộc đời là gì, khao khát tường tận cuộc sống nhằm dạy dỗ người khác cách sống, trong khi họ không có khoa học mà vẫn biết làm sao để sống; và rằng tôi hiểu mà lại không thể hiểu kiến thức của họ. Họ chỉ tôi những cái cây của mình, và tôi không thể hiểu nổi tình yêu mãnh liệt của họ khi nhìn vào chúng; cứ như thể họ đang nói chuyện với những sinh vật giống mình. Và hẳn tôi không nhầm khi nói rằng họ thực trò chuyện với chúng. Phải, họ đã tìm ra ngôn ngữ của chúng, và tôi tin rằng những cái cây hiểu họ. Họ nhìn mọi tạo vật Tự nhiên theo phương cách đó – như những loài vật sống trong hòa bình với họ và không tấn công họ mà lại yêu họ, bị thuần phục bởi tình yêu của họ. Họ chỉ vào những vì sao và kể với tôi những thứ về chúng  mà tôi không tài nào hiểu, nhưng tôi tin rằng họ bằng một cách nào đó có liên hệ với những vì sao, không chỉ là trong suy nghĩ, mà là bằng một kênh sinh hoạt nào đó. Ôi chao, những người này không ngừng gắng sức để khiến tôi hiểu họ, họ đã yêu tôi mà không cần sự thông hiểu đó, nhưng tôi hiêu rằng họ sẽ không bao giờ hiểu tôi, và bởi thế mà hiếm khi tôi nói với họ về trái đất của chúng ta. Tôi chỉ hôn lên sự hiện diện của quả đất nơi họ đang sống và âm thầm kính thờ họ. Và họ thấy điều đó và cho phép tôi kính thờ họ mà không sỉ vả sự thờ phụng củ tôi, do họ tự yêu mến mình rất nhiều. Họ không hề khó chịu với tôi vào những khi tôi hôn lên bàn chân họ với những giọt lệ, ý thức về tình yêu mà họ sẽ dùng để đáp trả tôi. Đôi khi, tôi tự hỏi bản thân làm sao họ có thể không bao giờ phỉ báng một sinh vật như tôi, và chưa từng một lần dấy lên trong tôi cảm  xúc về sự tị hiềm và ganh ghét? Tôi thường băn khoăn làm sao có thể như thế, rằng dù tôi khoe khoang và giả trá, tôi không bao giờ nói với họ về những điều tôi biết – mà những điều đó, dĩ nhiên, họ chẳng biết tẹo nào – rằng tôi chưa bao giờ từng bị cám dỗ bởi một khao khát làm họ kinh ngạc hay kể cả mang lại lợi ích cho họ.

Họ tươi tỉnh và khoái hoạt như lũ trẻ con. Họ dạo quanh những khu rừng và lùm cây xinh xắn, họ hát nhưng ca khúc dễ thương; thức ăn của họ rất nhẹ nhàng – trái cây trên những cái của họ, mật ong từ rừng của họ, và sữa từ những loài vật yêu mến họ. Công việc họ làm để có thực phẩm và áo quần  rất nhanh gọn và không tốn nhiều công sức. Họ yêu nhau và sinh con đẻ cái, nhưng tôi không bao giờ nhận thấy ở họ sự thúc đẩy của cảm hứng tàn nhẫn đã luôn trội lên ở hầu hết mọi kẻ trên trái đất này, trong tất cả và trong mỗi cá nhân, và là nguồn gốc của hầu hết mọi tội lỗi của con người. Họ vui mừng khi có những đứa trẻ ra đời, coi chúng như những sinh vật mới để cùng họ chia sẻ hạnh phúc. Không có cãi vã, không có sự ghen tuông giữa họ và họ thậm chí không biết những từ đó có nghĩa gì. Con cái của họ là con của tất cả, vì tất cả họ đã tạo nên một gia đình. Hầu như không có bất kỳ bệnh tật nào ở họ, mặc dù có cái chết; nhưng những người già của họ đã chết một cách yên bình, như thể ngủ thiếp đi, ban phước lành và những nụ cười cho những người vây quanh họ để nói lời tạm biệt sau cuối với những nụ cười rạng rỡ và yêu thương. Tôi chưa bao giờ thấy đau buồn hay nước mắt trong những dịp đó, mà chỉ có tình yêu, đạt đến điểm xuất thần, nhưng là một sự xuất thần tĩnh tại, được tạo tác hoàn hảo và suy nghiệm. Người ta có thể nghĩ rằng họ vẫn còn liên lạc với người đã chết, và liên minh trần gian của họ không bị cắt đứt bởi cái chết. Họ hầu như không hiểu khi tôi hỏi họ về sự bất tử, nhưng hiển nhiên họ đã đã quá chắc chắn về điều đó, không có gì tranh cãi, và rằng với họ nó là điều chẳng cần phải hỏi. Họ không có đền thờ, nhưng họ có một cuộc sống thực sự và tri nhận đồng nhất không đứt gãy với toàn thể vũ trụ; họ không có tín ngưỡng, nhưng họ có sự hiểu biết nhất định rằng khi niềm vui trần thế của họ đạt đến giới hạn của tự nhiên, thì vẫn còn có, với cả người sống và người chết,  sự tiếp xúc trọn vẹn hơn nữa với toàn bộ vũ trụ. Họ mong chờ khoảnh khắc đó với niềm vui, nhưng không vội vã, không tiều tụy vì nó, nhưng dường như có một dự cảm trước về nó trong trái tim họ, và họ nói chuyện về nó với nhau.

Vào buổi tối trước khi đi ngủ, họ thích hát những đoạn điệp khúc du dương đầy nhạc tính. Trong những bài hát đó, họ biểu hiện tất cả những cảm giác mà sự chia lìa đã đem tới cho họ, họ hát những vinh hiển của nó và rời bỏ nó. Họ hát những lời ca ngợi thiên nhiên, biển, rừng. Họ thích sáng tác những bài hát về nhau, và tụng ca nhau như những đứa trẻ; chúng là những bài hát đơn giản nhất, nhưng chúng xuất phát từ trái tim và đi tới trái tim. Và không chỉ trong các bài hát mà trong cả cuộc đời, họ dường như không làm gì khác ngoài việc ngưỡng mộ nhau. Nó giống như là họ đang yêu nhau, nhưng là một cảm giác có tính toàn thể, phổ quát.

Một vài ca khúc của họ, trang nghiêm và cuồng nhiệt, tôi hầu như không hiểu gì cả. dẫu tôi hiểu những từ ngữ thì tôi cũng không thể dò vào toàn bộ ý nghĩa của chúng. Nó vẫn nằm ngoài, vẫn luôn vậy, sự hiểu biết của tôi, nhưng trái tim tôi một cách vô thức lại thẩm thấu nó ngày càng nhiều. Tôi thường kể với họ rằng tôi có một điềm cảm nhận về chuyện này trước đó, rằng niềm vui này và vinh quang này đã từng tới với tôi trên trái đất của chúng ta trong bộ dạng một niềm khát khao buồn bã mà đôi khi gần như là những nỗi chua xót không thể chịu nổi, rằng tôi đã từng có một tiền kiến văn về tất cả bọn họ và cả hào ảnh của họ trong những giấc mơ nơi tim mình và khung cảnh trong trí não; rằng đôi khi trên trái đất của chúng tôi tôi không thể nhìn buổi hoàng hôn mà không rơi nước mắt… rằng trong sự oán hận đối với loài người trên trái đất vẫn luôn có một niềm mong mỏi đớn đau: làm sao tôi có thể không căm ghét họ mà không yêu thương  họ? làm sao tôi có thể không thứ tha cho họ? Những người này lắng nghe tôi, và tôi thấy họ không thể hiểu những điều tôi nói, nhưng tôi không hối tiếc là đã nói cho họ nghe điều đó: tôi biết rằng họ hiểu được mức độ mãnh liệt của sự mong mỏi đau đớn mà tôi dành cho những người tôi đã rời bỏ. Nhưng khi họ nhìn tôi bằng những cặp mắt ngọt ngào tràn ngập tình yêu, khi tôi nhận ra trong sự hiện diện của họ, tim tôi, cũng vậy, trở nên thuần khiết và cũng như họ, cảm giác về sự đủ đầy của cuộc đời khiến tôi nín thở, và tôi thờ phượng họ trong yên lặng.

Ôi chao, giờ thì ai nấy đều cười vào bản mặt tôi, và bảo đảm với tôi rằng không ai có thể mơ chi tiết đến như tôi kể, rằng tôi chỉ mơ thấy hoặc  cảm thấy một cảm xúc rộn lên trong tim mình trong một cơn mê sảng và tôi đã tự bịa ra những tình tiết khi tỉnh dậy. Và khi tôi kể họ nghe rằng rất có thể nó chính là vậy, Chúa ơi, họ đã cười hô hố vào mặt tôi và trò lố mà tôi gây ra! Ôi chao, vâng, dĩ nhiên là tôi đã vượt qu a những xúc cảm đơn thuần của giấc mơ tôi, và đó  là tất cả những gì được lưu giữ trong trái tim bị tổn thương tàn khốc của tôi; nhưng hình hài và ảnh tượng đích thực của giấc mơ tối, chúng, những thứ mà tôi đã thực sự thấy trong giấc mơ của mình, được lấp đầy bởi sự hài hòa ấy, chúng quá dễ thương và mê hoặc, và quá thật, đến mức khi tôi thức giấc, dĩ nhiên, không thể nào tư trang cho chúng trong ngôn ngữ nghèo nàn của chúng ta, cho nên chúng  buộc trở nên mờ đi trong tâm trí tôi; và vì thế có lẽ mà tôi đã đành phải bịa ra những chi tiết sau đó, và vì thế dĩ nhiên là tôi đã làm méo mó chúng trong khao khát mê muội của tôi nhằm truyền đạt ít nhất là một vài phần về chúng nhanh nhất có thể. Nhưng trên khía cạnh khác, làm sao tôi có thể tin rằng tất cả đều là sự thực? Sự thực có lẽ phải một nghìn lần tươi sáng hơn, hạnh phúc hơn, vui vẻ hơn tôi miêu tả. Cứ cho là tôi đã nằm mơ nó, nhưng nó bắt buộc phải có thật. Bạn biết đấy, tôi sẽ kể cho bạn một bí mật: có thể nó không phải một giấc mơ! Vì sau đó một sự việc thật kinh khủng đã diễn ra, một sự việc trần trụi kinh khủng, đến mức nó không thể nào được tạo ra trong một giấc mơ. Trái tim tôi có lẽ đã khơi nguồn giấc mơ, nhưng liệu một mình trái tim tôi có đủ khả năng để khơi nguồn cả sự kiện kinh khủng xảy đến với tôi sau đó? Làm sao một mình tôi có thể phát kiến ra nó hay mường tượng được nó trong giấc mơ của mình? Liệu trái tim hèn mọn của tôi, tâm trí thất thường, tầm thường của tôi có thể vươn lên một sự phát lộ chân lí như thế? Ôi chao, bạn hãy tự phán xét, cho đến nay tôi đã che giấu nó, nhưng bây giờ tôi sẽ nói sự thật. Thực tế là tôi … đã hủy hoại tất cả bọn họ!

 

V.

Vâng,vâng, nó kết thúc với việc tôi hủy hoại tất cả bọn họ! Làm sao chuyện ấy có thể xảy ra tôi không biết nữa, nhưng tôi vẫn còn nhớ nó rõ ràng. Giấc mơ bao chứa hàng ngàn năm và chỉ để lại trong tôi thức cảm chung chung. Tôi chỉ biết rằng tôi là nguyên nhân tội lỗi và sự sa đọa của họ. Như một con sán heo hèn hạ, như một con vi khuẩn của bệnh dịch hạch lây lan cho cả vương quốc, tôi đã làm nhơ bẩn cả địa cầu này, địa cầu đã từng thật hạnh phúc và trong sạch trước khi tôi đến. Họ học cách nói dối, thích thú được nói dối, và khám phá ra sự quyến rũ của sự nói láo. Ôi chao, mới đầu hẳn mọi chuyện đã diễn ra theo cách ngây thơ, với sự đùa giỡn, với chút làm đỏm, với trò chơi mê hoặc, có lẽ với cả một mầm bệnh, nhưng mầm bệnh nói láo đó đã tìm đường đi vào trái tim họ và làm hài lòng họ. Thế rồi dục vọng ra đời, dục vọng lại sản sinh ra thói đố kị, thói đố kị – thói ác độc. Ôi chao, tôi không biết nữa, tôi không nhớ nữa; nhưng chẳng bao lâu, chẳng bao lâu những giọt máu đầu tiên đổ xuống. Họ kinh ngạc và kinh hoàng, và bắt đầu tan  rã và chia rẽ. Họ tổ chức thành những liên minh, nhưng liên minh này chống lại liên minh khác. Những lời trách móc, khiển trách kéo theo sau. Họ đã biết thế nào là tủi hổ, và nỗi tủi hổ mang đến cho họ đức hạnh. Khái niệm về danh dự khai sinh, và mọi liên minh đều chăng lá cờ của mình. Họ bắt đầu tra tấn các loài động vật, và các loài động vật rút lui vào rừng, chúng trở nên hung dữ đối với họ. Họ bắt đầu tranh đấu cho sự chia tách, cho sự cô đơn, cho sự cá nhân hóa, cho cái tôi và cái anh. Họ bắt đầu nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Họ bắt đầu quen thuộc với sự đau đớn và yêu sự đau đớn; họ thèm khát đau thương, và tuyên bố chân lí chỉ có thể đạt tới qua đau thương. Rồi thì khoa học xuất hiện. Khi họ trở nên ác hiểm thì họ bắt đầu nói về tình huynh đệ và tính nhân văn, và hiểu những ý tưởng đó. Khi họ trở thành tội phạm thì họ phát minh ra công lý và vẽ ra toàn bộ mã hiệu luật pháp để quan sát nó, và để chắc chắn là luật pháp được thi hành, họ tạo ra chiếc máy chém đầu. Họ hầu như không nhớ họ đã đánh mất những gì, thực tế họ từ chối tin rằng họ đã từng hạnh phúc và ngây thơ. Họ cười trước cái khả năng về hạnh phúc thời xa xưa, và gọi đó là một giấc mơ. Họ không thể nào tưởng tượng nổi nó trong một hình thái và hình hài cụ thể, nhưng, kỳ lạ và tuyệt vời đáng để nhắc đến, dù cho họ đã đánh mất toàn bộ niềm tin vào hạnh phúc quá khứ và coi nó là thần thoại, họ quá mong mỏi được hạnh phúc và thơ ngây thêm một lần nữa đến mức họ quỳ sụp trước mong mỏi đó như những đứa trẻ, tạo ra những thần tượng từ nó, xây cất những đền thờ và thờ cúng ý tưởng của riêng họ, khao khát của riêng họ; nhưng cũng cùng lúc đó họ hoàn toàn tin rằng điều đó là không thể đạt được và không thể hiện thực hóa, song họ vẫn cúi đầu trước nó và say mê nó trong nước mắt. Tuy nhiên, nếu họ được trở về với trạng thái thơ ngây hạnh phúc mà họ từng để mất, nếu ai đó cho họ thấy lại điều đó và hỏi họ xem họ có muốn trở về trạng thái đó hay không, họ nhất định sẽ khước từ. Họ trả lời tôi:

“Chúng ta có thể gian dối, xấu xa, bất công, nhưng chúng ta biết thế và chúng ta thổn thức vì điều đó, chúng ta đau buồn vì điều đó; chúng ta hành hạ và trừng phạt bản thân có lẽ còn nhiều hơn Người Phán Xử bao dung Người sẽ phàn xử chúng ta và Người mà danh tính chúng ta không hề hay biết. Nhưng chúng ta có khoa học, và bằng những phương cách của mình chúng ta sẽ tìm ra chân lý và sẽ đạt đến nó một cách có ý thức. Tri thức cao hơn cảm xúc, và sự nhận thức về cuộc đời đứng trên cuộc đời. Khoa học sẽ cho chúng ta trí khôn, trí khôn sẽ phát lộ những định luật, và trí thức về những định luật của hạnh phúc đứng trên hạnh phúc.”

Đó là những gì họ nói, và sau khi nói những điều như vậy, mọi người bắt đầu yêu bản thân mình hơn bất kỳ ai khác, và kỳ thực họ chẳng thể làm gì khác hơn. Tất thảy trở nên đố kị với quyền lợi nhân cách của mình đến nỗi họ đã làm hết sức nhằm triệt tiêu và hủy hoại chúng nơi những người khác, và biến điều đó những thứ họ làm chủ yếu trong đời. Sự nô lệ theo sau, thậm chí là nô lệ tự nguyện; kẻ yếu hăm hở khuất phúc kẻ mạnh, với điều kiện kẻ mạnh giúp họ khuất phục kẻ yếu hơn. Rồi có những vị thánh đến bên những người này, khóc lóc, nói với họ về niềm kiêu hãnh của họ, về sự mất mát tính hài hòa và cũng nói nhiều như vậy, về sự mất mát nỗi hổ thẹn. Họ bị cười nhạo hoặc bị ném đá. Máu thánh bắn ra trên những bậc thềm của những ngôi đền. Rồi nổi lên những người bắt đầu suy nghĩ về việc làm sao để đưa mọi người kết nối trở lại, để cho mọi người, trong khi vẫn tự luyến bản thân hơn tất cả, sẽ không ngáng đường kẻ khác, và mọi người sẽ cùng chung sống trong một thứ giống như là một xã hội điều hòa. Chiến tranh thường nảy nở từ ý tưởng này. Mọi chiến binh đồng thời tin tưởng chắc chắn rằng khoa học, trí khôn và bản năng tự bảo tồn sẽ buộc con người cuối cùng phải liên kết lại thành một xã hội điều hòa và hợp lí; và như thế, trong khi đó, để thúc đẩy các vấn đề, “giới thông tuệ” toan phấn đều để tiêu diệt càng nhanh càng tốt những kẻ “không có trí tuệ” và không hiểu ý tưởng của họ, để những kẻ đó không cản trở chiến thắng của ý tưởng đó. Nhưng bản năng về sự tự vệ nhanh chóng trở nên yếu đuối hơn, rồi xuất hiện những người, kiêu căng và dâm dục,  những kẻ đòi hỏi có tất cả hoặc không có gì. Để đoạt được mọi thứ, họ dựa vào tội ác, và nếu họ không thành công thì họ tự sát. Rồi phát sinh những tôn giáo với sự cuồng tính của tính phi tồn tại và tự hủy hoại cho lợi ích của một nền hòa bình vĩnh cửu trong hủy diệt. Cuối cùng những con người này trở nên mệt mỏi với lao động vô nghĩa, và dấu hiệu của đau khổ xuất hiện trên gương mặt họ, và tiếp đó họ khẳng định rằng đau khổ là một vẻ đẹp, vì chỉ có trong đau khổ mới tồn tại ý nghĩa. Họ tôn vinh sự chịu đựng trong những bài hát. Tôi đi giữa bọn họ,vặn vẹo tay và nức nở trên chúng, nhưng có lẽ tôi đã yêu họ hơn cả những ngày xưa khi nỗi đau còn chưa hằn in trên mặt họ, khi mà họ còn ngây thơ và đáng yêu biết bao. Tôi yêu cái địa cầu mà họ đã làm ô nhiễm còn nhiều hơn cả khi nó còn là một thiên đàng, chỉ bởi vì sự phiền muộn đã đến với nó. Trời ơi! Tôi đã luôn yêu sự phiền muộn và khổ nạn, nhưng chỉ cho tôi thôi, chỉ cho tôi thôi; tôi nức nở vì họ, thương xót cho họ. Tôi vươn tay ra cho họ trong tuyệt vọng, lên án, nguyền rủa, khinh bỉ bản thân. Tôi nói với họ rằng tất cả những điều này là do tôi làm, chỉ của tôi thôi; và rằng chính là tôi đã đem tới cho họ sự suy đồi, ô nhục và sai trái. Tôi mong máu của tôi sẽ bị vắt kiệt đến giọt cuối cùng trong nỗi đọa đầy. Nhưng họ chỉ cười vào mặt tôi, và bắt đầu, cuối cùng, họ nhìn tôi như thể tôi bị điên. Họ biện minh cho tôi, họ tuyên ngôn rằng họ chỉ có được thứ mà tự họ muốn và rằng tất cả những thứ đang có giờ đây không thể khác đi. Sau rốt họ nói với tôi rằng tôi đang trở nên nguy hiểm và họ sẽ nhốt tôi vào một nhà thương điên nếu tôi không giữ gìn miệng lưỡi. Và nỗi sầu khổ ấy ám lấy tâm hồn tôi khiến tim tôi quặn thắt, và tôi cảm tưởng như mình sắp chết; và rồi… rồi tôi tỉnh dậy.

***

Đó là buổi sáng, lúc ấy, dù chưa hẳn là ban ngày, nhưng đã khoảng sáu giờ. Tôi tỉnh dậy trên cùng chiếc ghế tựa; ngọn nến đã cháy tán; mọi người đang ngủ trong phòng viên đại úy, và có một sự tĩnh lặng hiếm có trong căn hộ của chúng tôi. Đầu tiên tôi nhảy lên với sự kinh ngạc tuyệt vời: chưa từng bao giờ có chuyện như vậy xảy đến với tôi, dù là chi tiết tầm thường nhất; tôi chưa từng, chẳng hạn, rơi vào giấc ngủ chiếc ghế tựa của mình. Khi tôi đang đi lại thì tôi chợt trông thấy khẩu súng lục nằm đó, đã lắp đạn,sẵn sàng – nhưng nháy mắt tôi ném nó đi! Ôi chao, giờ đây, cuộc đời, cuộc đời! Tôi đưa tay cao lên và gọi lên chân lý vĩnh cửu, không phải bằng từ ngữ mà bằng nước mắt; sự ngất ngây, sự ngất ngây không thể đong đếm tràn ngập hồn tôi. Vâng, cuộc đời và sự tỏa lan của những cơn sóng lành! Ôi chao, tôi tại thời điểm đó quyết tâm truyền thụ làn sóng ấy, và truyền thụ nó, dĩ nhiên, trong suốt đời mình. Tôi sẽ truyền đi những con sóng ấy, tôi muốn truyền đi những con sóng ấy- của cái gì ư? Của chân lý, vì tôi đã chứng kiến nó, chứng kiến nó bằng chính đôi mắt mình, chứng kiến nó trong mọi hào quang của nó.

Và kể từ đó tôi đã đi rao giảng! Còn hơn thế, tôi yêu tất cả những người cười nhạo tôi hơn bất kỳ kẻ nào còn lại. Tại sao lại thế thì tôi không biết và không thể giải thích, nhưng nó là như thế. Tôi được cho biết rằng tôi mập mờ và rối bời quá, và nếu bây giờ tôi mập mờ và rối bời, tôi sẽ làm gì tiếp sau? Đó là sự thật, quả vậy: Tôi mập mờ và rối bời, và có lẽ khi thời gian qua đi, tôi sẽ còn hơn thế nữa. Và tất nhiên tôi sẽ phạm phải nhiều sai lầm nữa trước khi tôi tìm ra cách truyền giảng, nghĩa là tìm ra những từ ngữ để nói, những việc cần làm, vì đó là một nhiệm vụ rất khó khăn. Tôi thấy mọi chuyện rõ như ban ngày, nhưng nghe này, có ai mà không phạm sai lầm? Tuy nhiên, bạn biết đấy, tất thảy đều đang thực hiện cùng một mục tiêu, tất cả đều đang phấn đấu theo cùng một hướng, từ nhà hiền triết đến kẻ cướp thấp hèn nhất, chỉ là họ đi những con đường khác nhau. Đó là một chân lý cũ, nhưng đây, điều mới đây: tôi không thể sai thêm nữa. Vì tôi đã được thấy chân lý; tôi đã thấy và tôi biết rằng mọi người có thể tốt đẹp và hạnh phúc mà không mất đi sức mạnh sinh tồn trên trái đất. Tôi sẽ không và không thể tin rằng cái ác là trạng huống bình thường của loài người. Và chỉ vì niềm tin này của tôi mà họ cười. Nhưng làm thế nào tôi có thể không tin nó? Tôi đã nhìn thấy chân lý –  không phải là tôi đã phát minh ra chân lí bằng trí não mình mà là tôi đã nhìn thấy nó, nhìn thấy nó và hình ảnh sống động của nó đã lấp đầy tâm hồn tôi mãi mãi. Tôi đã chứng kiến nó trong sự hoàn bích đến mức tôi không thể tin rằng có nó là điều bất khả. Và làm thế nào tôi có thể tiếp tục sai lầm? Không nghi ngờ gì rằng tôi sẽ trượt ngã, và có lẽ sẽ nói về nó bằng một ngôn ngữ thứ hai, nhưng sẽ không lâu đâu: hình ảnh sống động của những gì tôi đã thấy sẽ ở bên tôi và sẽ luôn sửa sai, chỉ lối cho tôi. Ôi chao, tôi tràn đầy can đảm và trinh nguyên, và tôi sẽ đi tiếp, đi tiếp dù cho cả ngàn năm nữa! Bạn có biết rằng, đầu tiên tôi định hé lộ sự thật là tôi đã làm ô uế họ, nhưng đó là một sai lầm – đó là sai lầm đầu tiên của tôi! Nhưng chân lý thì thầm với tôi rằng tôi đang nói dối, bảo vệ tôi và sửa sai cho tôi. Nhưng làm sao để thiết lập một thiên đàng – tôi không biết, vì tôi không biết làm sao để đưa nó thành từ ngử. Sau giấc mơ của mình tôi mất đi khả năng điều khiển ngôn từ. Những từ ngữ chính yếu nhất, sao cũng được, những từ ngữ thiết yếu nhất. Nhưng đừng lo, tôi sẽ đi và sẽ tiếp tục nói, tôi sẽ không bỏ cuộc, vì đằng nào tôi cũng đã nhìn thấy nó bằng đôi mắt mình, dầu tôi không thể miêu tả những gì tôi đã thấy. Nhưng những kẻ giễu cợt không hiểu điều đó. Chỉ là mơ thôi, họ bảo, mê sảng, ảo giác. Ôi chao! Cứ như thể điều đó có ý nghĩa lắm! Và họ thật là kiêu hãnh biết bao! Một giấc mơ! Thế nào là một giấc mơ? Chẳng phải đời ta cũng là một giấc mơ hay sao? Tôi sẽ nói thêm về nó. Giả như thiên đàng này chẳng bao giờ xảy đến (điều này tôi hiểu), nhưng tôi vẫn sẽ tiếp tục rao giảng. Và song mọi thứ đơn giản làm sao: một ngày nọ, một giờ nọ mọi chuyện có thể được an bài tắp lự! Điều chính yếu là yêu thương người khác như yêu chính mình, đó là điều lớn lao, và đó là tất cả; không còn gì cần thêm – bạn sẽ tìm ra ngay cách để an bài tất cả. Và song nó là một chân lý cũ mèm đã được nói đi nói lại cả tỉ lần – nhưng nó vẫn chưa hòa nhập phần nào vào cuộc đời chúng ta! Ý thức về cuộc đời cao hơn cuộc đời, kiến ​​thức về quy luật của hạnh phúc cao hơn hạnh phúc –  đó là điều người ta phải chống lại. Và tôi sẽ chống lại. Nếu chỉ cần mỗi người đều truy cầu nó, tất cả có thể được an bài ngay tắp lự.

Và tôi đã tìm được cô bé nhỏ ấy… Và tôi sẽ đi, sẽ đi.

1877

Fyodor Dostoevsky 

[Hiền Trang chuyển ngữ từ bản tiếng Anh “The dream of a ridiculous man”]

 

Bonus:

Đây là một phim ngắn chuyển thể từ tác phẩm này của Dostoevsky (có phụ đề tiếng Anh)

Tranh minh họa: bức Study after Velázquez’s Portrait of Pope Innocent X của Francis Bacon

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *