Viết viếc

Anh như lầu vắng, em như ánh trăng

Anh yêu tiếng hát êm như lời nguyền đẹp bao ước mơ, anh như lầu vắng em như ánh trăng reo muôn ý thơ, muốn nói cùng em đôi lời trìu mến….

Tôi tin xứ Nam là xứ của tình yêu. Không thì sao người ta viết ra những lời dạt dào tự tình đến thế. Nhưng hình như toàn là tình buồn hết cả. “Tố Tâm” cũng buồn. “Kiếp hoa” cũng buồn. “Tố Tâm” là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của văn chương nước Việt. “Kiếp hoa” là bộ phim điện ảnh thu tiếng trực tiếp đầu tiên. Những thứ đầu tiên đều buồn, rồi như thành cái lệ, không yêu thì thôi, đã yêu thì xiết bao là buồn bã.

Truyện phim “Kiếp hoa” của Trần Lang kỳ thực đơn giản. Nếu lược bỏ những rườm rà thì gói gọn lại, cô Lan yêu anh Thiện, yêu lắm, chiến tranh nổ ra khiến họ chia xa, cô Lan lưu lạc rồi hay tin anh Thiện đã lìa đời, rồi cô bị một tên Sở Khanh lường gạt, đến lúc gặp lại Thiện rồi, cô lại sợ mình không xứng đáng. Anh Thiện dùng tình yêu thuyết phục cô về với mình. Đám cưới linh đình diễn ra, trong đêm tân hôn, cô vội vàng bỏ trốn, rồi không may chết chợ chết đường.

Phim làm hơn 50 năm mà vẫn nguyên một khối tình vừa nên thơ vừa chua chát. Nhớ cảnh đêm trăng đồng nội ngồi bên bến sông, cô Lan cùng em gái là cô Thủy, cùng cất tiếng hát Dư Âm cho anh Thiện nghe, cái liếc mắt nhìn nhau chứa chan ý vị. Rồi trải bao bão táp phong ba đến khi trùng phùng, lại là bài hát Dư Âm ngày nào làm nền cho khúc tình đẹp đẽ khó quên. Anh Thiện ngồi bên cây dương cầm, cô Lan mặc áo dài cưới, tóc vấn lưng chừng, mắt ướt, môi thắm, tình yêu tưởng khép lại trong một nốt nhạc vui, ấy thế mà rồi bài tình ca ấy cũng không cứu nổi một cuộc tình, không cứu nổi một cuộc đời, không gỡ nổi một mối sầu tiễn biệt.

Ấy thế mà dường như điều ấy lại càng làm tình yêu ấy nồng hơn, và đượm hơn. Tôi đọc thơ ca nước ngoài không dám nói là nhiều, nhưng cũng không hề ít, và xin khẳng định rằng cùng trời cuối đất cũng chỉ có dân nước ta mới đúc rút ra triết lý “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Ngày bé tôi cứ đinh ninh nó là câu của mấy bậc tao nhân mặc khách Trung Hoa, nào ngờ đâu lớn lên biết được cái người nắn ra ý tưởng ấy là ông Hồ Dzếnh. Dầu thơ ông có phảng phất thơ xứ Bắc thì đến tận cùng ông vẫn cứ là con đất Việt. Bài “Ngập ngừng” của ông, nhiều câu đã in như khảm ngọc trong tim người xứ Nam mình:

“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,

Tôi sẽ trách — cố nhiên — nhưng rất nhẹ;

Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,

Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.

Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…”

Có ai đời mong em đến lại cầu em chẳng đến, bởi em đến rồi thì nỗi nhớ nhung vơi đầy còn có để làm gì? Em không đến, nỗi nhớ em càng sâu, thương em càng nặng, xao xác nhớ em nghĩ tới ngày mai. Người phương Tây nào hiểu nổi điều này? Tình yêu với họ là giây phút này, là nắm ngay lấy, là hút cho tràn trề trọn vẹn ai tình thuở sớm mai, họ không đợi chờ đến tương lai, tình yêu rõ ràng một là một mà hai là hai. Chỉ người Việt mình mới hiểu cái lạc thú của một mối tình dằn vặt, buông tay nhau để nhớ nhau đong đầy, một mối tình như có như không có có không không. Họ ủ bén tình yêu như người ta ủ rượu, ủ đến mãi mãi, càng ủ càng thơm, không bao giờ rón đến hớp trộm. Tình yêu thành thử như một trái ngọt viển vông, vì viển vông mà lại thêm phần khao khát.

Người Việt mình có “khiếu” trong những mối tình bi ai thật mà! Bên Pháp có ông Felix Arvers được coi là “nhà thơ có một bài thơ duy nhất”. Không phải vì ông sáng tác duy nhất một bài thơ mà bởi trong số thơ của ông, duy có bài “Tình tuyệt vong” là được lưu truyền rộng rãi. Bài “Tình tuyệt vong” trong nguyên gốc tiếng Pháp quả đã hay, nhưng qua lời dịch của Khái Hưng, lại thêm mấy phần chua xót.

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu

Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu

Mà người gieo thảm như hầu không hay […]

Còn nỗi buồn nào hơn yêu người mà không được người yêu lại? Nhớ cô Nghi Lâm trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, mắt sáng như trăng rằm, tình yêu cô dành cho Lệnh Hồ đại ca lại còn sáng hơn cả trăng. Nhưng đời này bao giờ chả thế, người yêu ta thì ta không yêu lại, ta yêu người thì người lại chẳng yêu ta. Trái tim Lệnh Hồ Xung đã có Thánh cô xinh đẹp hoàn mỹ chung tình, chàng đâu cần cô Nghi Lâm nào nữa. Trong mắt chàng Nghi Lâm mãi chỉ là tiểu muội tốt bụng đáng thương thôi. Đấy, người Hoa cũng tương tư mối sầu đơn phương, nhưng người Việt chẳng cần kể chuyện dông dài, chỉ cần một tứ thơ (mà lại là thơ dịch) đã diễn tả hết nỗi ưu uất của tình yêu không được người đáp lại.

Tiện đây nhắc tới nữ tu, nhắc tới Khái Hưng, nhớ làm sao quên những ngày ông nội tôi còn sống, trong gian nhà bé như mắt con ruồi, ông ngồi trên chiếc ghế sofa bằng gỗ, kê đệm đỏ, bọc phủ một lớp ren trắng ở chỗ tựa đầu, chim chóc của con phố cũ ca véo von dưới những lùm cây, trong không gian ấy, ông đọc cho bà tôi nghe những cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng. Những cuốn truyện in bé bằng lòng bàn tay, chữ nghía ríu ra ríu rít, sách bìa đã cong vênh vàng vọt, giọng ông tôi thì truyền cảm, lên trầm xuống bổng, lúc nhân vật hoảng hốt thì cũng ra chiều hoảng hốt, lúc nhân vật buồn so thì giọng ông cũng như pha muối mặn, lúc nói câu ân ái thì giọng mềm mại như sợi tơ hồng:

Nếu Lan đi thì Ngọc phải chết khô chết héo mất. Ngọc chẳng dám mơ màng chi, chỉ ao ước thỉnh thoảng lên chùa nhìn thấy mặt Lan là đủ rồi. Vậy xin Lan cứ ở lại đây tu hành, rồi ngày Ngọc được nghỉ, cho phép Ngọc phóng xe đạp lên chùa thăm Lan, Lan có ưng như thế không?

Ông tôi đặc biệt thích truyện này,”Hồn bướm mơ tiên”, và thêm cả “Nửa chừng xuân”, đều do Khái Hưng viết cả. Cả hai đều buồn lửng lửng lơ lơ, màng màng mơ mơ như tên của nó. Yêu, tưởng đã có được người yêu, rồi lại mất nhau, tình yêu nhường chỗ cho tình tri âm tri kỷ. Nhưng tri âm tri kỷ dù tương thân cách mấy cũng cứ thiêu thiếu một điều gì đó để trở thành toàn vẹn. Kiều có hạnh phúc “đổi tình cầm sắt đổi sang cầm cờ” với chàng Kim Trọng hay không? Vui, nhưng bởi vì sau khi “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, đời nàng còn lại gì nữa đâu nên được làm bạn với Kim với nàng cũng là thỏa mãn. Còn bình thường ra, mấy ai chịu an ổn như Kiều? Có một rồi lại đòi hai, có cái  này lại đòi thêm cả cái kia nữa.

Tất nhiên, tôi cũng chẳng dám phán bừa rằng người Việt mình yêu rồi để đấy, yêu chỉ để sầu, yêu chỉ để chia ly, yêu chỉ để hẩm hiu khóc than khi tình yêu trót  không thành. Như ông bà tôi chẳng đã có cái kết viên mãn đấy sao? Ông tôi vì gia cảnh mà đến năm lớp 5 buộc phải bỏ học đi làm thuê kiếm sống. Đôi khi tôi nghĩ ông tôi cũng có  chút giống Marxim Gorki lắm đấy, học trong đời chứ chẳng có trường nào dạy bảo, rồi cùng mến văn thơ, dù khác ông Marxim, ông tôi không thành nhà văn nhà thơ chi sất. Nhưng trước khi ông mất, ông trao cho con cháu cuốn nhật ký ghi cả một đời người của ông. Những dòng viết tay nắn nót trải dài bao năm tháng mà nét chữ thanh thanh không đổi.

Trong cuốn nhật ký ấy, ông tôi kể chuyện lần đầu gặp bà:

Lần đầu gặp em Bình, em mặc chiếc áo xanh lơ, đeo cài tóc cũng màu xanh lơ, mái tóc đen nhánh, em đang cúi đầu giã gạo.

Tôi nhìn lại bà tôi lúc này, em Bình ngày nào giờ đã bạc mái đầu, mái tóc suôn ngày nào giờ cũng đã ít nhiều rơi rụng, ở tuổi 80 em Bình cũng chẳng còn mặc áo xanh mà đổi sang những áo đen, áo nâu, áo sẫm màu cho hợp tuổi, và cũng để hợp với tình cảnh một góa phụ mất chồng. Vậy mà như đâu đây tôi vẫn thoáng thấy ánh mắt nụ cười của bà tôi ngày ấy, cái ánh mắt nụ cười đã hớp hồn ông nội tôi khi đó mới xuất ngũ chưa được bao lâu.

Bà nội không giống ông, bà không phải người hay chữ, cũng không mấy đam mê thơ phú sách vở. Nhưng chẳng vì thế mà tình yêu giữa ông bà không bay bổng nên thơ. Đến khi ông nội tôi sắp giã từ dương thế, điều làm ông lắng lo hơn cả vẫn là, ông đi rồi, ai sẽ mỗi ngày pha nước, dọn bàn thờ, giúp bà tụng Kinh? Ai sẽ là người ở nhà ngóng bà về mỗi ngày bà ra chùa Quán Sứ đọc Kinh Liên Hoa cùng bè bạn? Ông sẽ nhớ bà cháu vô hạn.

Ông Trần Tiến nói đúng lắm, rằng ai yêu ta thật thì dù chả biết võ vẽ kỹ thuật gì cũng khiến ta thích mê đi được, chỉ cần nói ỡm ờ là đã thấy hạnh phúc khoan khoái lắm:

“-Anh ơi, nhìn này nó là cây lúa đấy.

Chàng ồ lên:

– Thế à, thích nhỉ, cây lúa đẹp nhỉ.

Tình yêu thì lúc nào cũng vui thế đấy, dù chẳng có thông điệp gì mới.”

À, ra thế, nói một câu vẩn vơ mà lay động cõi lòng, thế là yêu rồi. Kể ra, ông Nguyễn Văn Tí tỏ tình với người thương bằng câu “Anh như lầu vắng, em như ánh trăng” là đã thuộc diện sáng tạo hơn người lắm. Cuộc tình bình thường người ta thường nói mấy câu bình thường, như trong “Hồn bướm mơ tiên” đó, Ngọc nói xa nói gần rồi cũng đành thổ lộ với Lan: “tôi yêu cô trong linh hồn, trong lý tưởng, cô tha thứ cho.”, hay trong “Vị đắng tình yêu”, Quang Đông-ki-sốt trong cơn mưa tầm tã trèo vào nhà Phương, nghe nàng đàn, dúi vào tay nằng bó hoa dại, khe khẽ nói: “Tôi chỉ là khách qua đường. Xin em nhận lấy.” Rồi cả “Vĩnh biệt mùa hè”, tôi không nhớ chính xác Hạ và Long lúc đạp thuyền con vịt có tâm tình gì với nhau, nhưng lời bày tỏ tình yêu cũng giản đơn, chẳng chút dụng công nào cả. Tình yêu nào có phân biệt kẻ nhiều chữ nghĩa với kẻ ít chữ nghĩa đâu. Ai cũng yêu và ai cũng ngất ngây vì yêu được. Chỉ cần là lời nói từ  miệng của người ta yêu thôi đã đủ để say đắm rụng rời.

Nhưng lại nhìn vào đó, cả “Vị đắng tình yêu” hay “Vĩnh biệt mùa hè” đều là những chuyện tình thê thiết. Chẳng  phải cố công tìm kiếm, cứ nhặt những phim, những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của người Việt mình, cứ tự nhiên toàn thấy những kết cục không có hậu. Mà cũng lạ, đọc những cuốn sách ngôn tình của dân Tây, dân Tàu, tôi thấy nhạt nhẽo không đâu mà kể. Nhưng đọc những chuyện tình mê muội của Tự Lực Văn Đoàn, xem những bộ phim mỳ ăn liền của Việt Nam thuở trước, lại thấy tim mình như rỉ máu. Quả có khi tôi thích bênh văn chương nghệ thuật nước mình thật.

Nước ngoài không có tình buồn sao? Nhiều chứ. Nhiều lắm. Nhưng nó vẫn cứ như có gì khang khác. Như thể họ đã cố gắng rất nhiều mà tình vẫn đứt dây. Còn tình yêu xứ Nam lại khác, tưởng như lúc chớm yêu đã biết có hồi ly biệt. Vui sướng luôn ngắn chẳng tày gang, chớp đến chớp  đi, nỗi buồn thì trường cửu vĩnh viễn vô tân miên man.

Hoa nở để mà tàn

Trăng tròn để mà khuyết

Bèo hợp để chia tan

Người gần để ly biệt

Hoa thu không nắng cũng phai màu

Trên mặt người kia in nét đau.

Tình nước Nam buồn. Nhưng người nước Nam vẫn cứ muốn làm mãi người nước Nam để nhấm hết nỗi buồn riêng tây ấy.

Hiền Trang

[Bài viết đã đăng trên Trà Sữa cho tâm hồn]

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *