Văn vẻ

Mình nói gì khi nói về ký ức?

Một chiều tháng Chạp, ngồi rung đùi đọc tản bút của Trần Tiến mang tựa đề Tống Cựu Nghinh Tân, nghĩa là tống tiễn cái cũ đi mà đón đưa cái mới về. Cụ bảo cái lệ ấy đâu phải cứ năm hết tết đến mới thực hành, quanh năm suốt tháng người ta thay cũ đổi mới mãi đấy thôi, thay một bộ quần áo bẩn, thay cái điện thoại, thay cái ti vi, thay đổi chỗ ở, chỗ làm…, đều là tống cựu nghinh tân cả.

Có mới nới cũ tưởng như là quy luật muôn đời, ấy thế mà trần đời oái oăm, có lắm thứ muốn tống đi không tống được. Lắm thứ đó cứ bám dính mãi trên hành lí ta đeo mang suốt cuộc đời, bám dính lì lợm như những vệt bùn đỏ tung tóe lên ta trên con đường hiện sinh lầy lội. Lắm thứ đó là ký ức.

Ký ức, người ta nói nhiều đến ký ức quá, đến mức đôi khi thật khó để định nghĩa ký ức rốt cuộc là cái gì mà sao vô hình nhưng nặng trĩu. Nói rằng ký ức là một sinh thể không thể nắm cầm, thì không khí cũng đâu nắm cầm được, vậy ký ức khác gì không khí ngoài việc ký ức không thể đóng trong chai? Nói rằng ký ức là vụn vỡ từ những cuộc đời, cuộc tình, cuộc vui, cuộc nhậu, cuộc bôn ba, cuộc tủi hơn, thì những món quà, những chai bia, những khung ảnh, chúng cũng là vụn vỡ của chừng ấy “cuộc”, ký ức và chúng khác gì cơ chứ?

Con người cũng đến lạ. Chúng ta chẳng ai biết ký ức là gì, vậy mà người nào người nấy nhao nhao nói về nó, vậy mà người nào người nấy cẩn thận giữ rịt nó bên mình, như một bệnh tiểu đường luôn có một chiếc kẹo ngọt giấu trong túi áo để đề phòng những khi kiệt quệ. Ký ức có ngọt không? Chưa chắc. Nhưng nó cũng cứu độ đời ta như viên kẹo kia cứu độ người mang bệnh. Bình thường một viên kẹo vô dụng là thế, bình thường ký ức cũng vô công rồi nghề…

Số nhiều của ký ức là cuộc đời. Bởi một cuộc đời xét cho cùng cũng không là gì hơn ngoài một chiếc bánh mì được nhào nặn từ bột ký ức. Có chiếc bánh được nặn khéo, ra hình thù đàng hoàng, có chiếc bị nặn ẩu, nặn vụng, thành ra xộc xệch, có chiếc làm từ bột ngon, có chiếc làm từ bột còn dính đầy những sạn, nhưng bánh mì rồi vẫn hoàn bánh mì, cũng đều để ăn, như đời là để sống.

Động từ của ký ức là nhớ. Nhưng đôi khi cũng không cứ phải nhắc đến từ “nhớ” thì mới là “nhớ”. Như Lý Bạch tiên sinh chỉ cần phóng bút mấy câu: “Lâu ngày chưa viếng non Đông / Tường vi mấy độ đơm bông nảy chồi / Hợp tan mây bạc còn trôi / Trăng ngà thuở nọ lạc soi nhà nào” – chẳng bảo ai cũng biết tâm tình ưu uất vì nỗi nhớ.

Còn tính từ của ký ức, hình như là buồn. Hình như, bởi vì “buồn” không phải tính từ duy nhất mô tả được hành trạng của ký ức, mà cả “đẹp” nữa. Nhưng thôi, đẹp với buồn là đôi bạn thanh mai, thậm chí trước cả khi Kawabata viết Đẹp và Buồn thì đẹp và buồn đã là trời sinh một cặp, chỉ là tài hoa của Kawabata rộng, mỹ cảm của Kawabata tinh, thiên lương của Kawabata trong sáng, nên phóng chiếu được mối quan hệ ấy hơn người thường. Còn ký ức, tóm lại là ký ức đẹp và buồn, điều đó cả thế gian tám tỉ người đều rõ, sau này thế gian có chín tỉ người thì chín tỉ người cũng sẽ rõ. Ký ức buồn rất buồn. Ký ức vui cũng rất buồn. Ký ức đẹp rất đẹp. Ký ức xấu cũng rất đẹp. Phàm cái gì đã đi qua thì đều khiến ta lưu luyến.

Ký ức lại có thói dễ lây lan. Là thế nào? Chả hạn, tôi đọc tản bút Trần Tiến nhớ Văn Cao, nhớ Trịnh Công Sơn, nhớ những người bạn của cụ đã xa khuất nơi chín suối, tự nhiên tôi cũng thấy nhớ họ xiết bao. Cái ký ức của Trần Tiến như cốc nước đổ ra lênh láng thấm ướt vào thế gian chung quanh nó, để rồi chính tôi đây nào đã từng được uống chum rượu với Hoàng Cầm, cũng nào đã từng nói chuyện văn chương với Trịnh, thế mà cũng thấy nhớ quá nhớ quá. Rồi đọc tới đoạn Trần Tiến nhớ thuở âm nhạc còn chưa nhăng nhố, những cuộc thi ca hát còn chưa màu mè, người đi hát còn tự tại và tự trọng, thì tôi cũng mới ngớ ra, ờ, sao mà tôi cũng nhớ thời ấy nữa, dù tôi lớn lên khi âm nhạc đã lộn xộn đủ đường, chứ biết thời xưa thế nào đâu mà bày đặt nhung với nhớ.

Mà rồi chúng ta cũng không phải ai cũng đã từng có một cô bạn gái thích nói về những cái hố, thậm chí không phải ai cũng từng có một cô bạn gái, nhưng đọc Rừng Nauy, ta lại tưởng như hồi nào đó, ở đâu đó, mình cũng giống Toru Watanabe từng đem lòng yêu một cô Naoko như vậy. Ký ức thực tế là những thứ khu biệt, kiểu vân tay, không bao giờ có hai con người với hai dấu vân tay y sì đúc, cũng không bao giờ có hai con người với trường ký ức hệt như nhau. Dù Toru có là một nhân vật mang tính biểu tượng đi chăng nữa thì Toru cũng không phải bạn. Nhưng rồi bạn lại cứ nhớ Naoko theo cách Toru đã nhớ. Nó là một dạng hội chứng rối loạn ám ảnh về ký ức, một kiểu phân thân đa nhân cách mà kẻ nào cũng mắc phải.

Có một sự hiểu sai về ký ức, rằng ký ức nằm ở thì quá khứ. Thời gian chính ra không liên hệ gì với ký ức. Có những ký ức dù đổ bao nhiêu thuốc tẩy thời gian cũng không sao xóa nhòa được. Ở một khoảnh khắc nào đó, bỗng nhiên một ký ức đông cứng lại như một di chỉ hóa thạch, và nó sẽ cứ ở đấy mãi, cũng có thể lộ thiên, cũng có thể bị chôn sâu trong ngàn mét đất, nhưng kể cả thế thì cũng chỉ cần một cơn địa chấn – thứ mà cuộc đời luôn thừa thãi bởi những mảng lục địa của kiếp sống ngắn ngủi không bao giờ thôi va đập – chỉ cần một cơn địa chấn là những di chỉ ký ức lại trồi lên.

Chưa hết, ký ức cũng không chỉ được tạo thành ở chiều đã qua của thời gian. Trong phút giây hiện tại, người ta nhìn thực thể một sự vật và ngay lúc đó đã biết chỉ mấy nữa thôi, cái đang hiện lên nơi nhãn cầu của ta sẽ biến thành ký ức.

Có một chiều tôi lạc bước đến một cái hồ rộng lớn ở Quảng Nam. Cái hồ nằm ngay sát cạnh một khu du lịch di sản của đất nước, nghĩa là đông người ghé tới lắm, ấy vậy mà chẳng một bóng người lai vãng tới hồ. Tôi ngồi đó cả ngày trời, nghe một anh ca sĩ vô danh hát về những đóa hoa rộ nở tháng năm, dù lúc đó đang là tháng một, phía tay trái là mặt nước mênh mang, phía tay phải là đồng xanh thăm thẳm, trên trơi là ánh dương rực rỡ, dưới đất là đường dài vô tận. Một ngày trời không có tiếng đồng loại, đẹp như vậy sao không ai ghé tới? Người bạn đồng hành của tôi nói rằng, chỉ cần một trong hai đứa lên mạng xã hội viết về cái hồ này, rồi một đồn mười, mười đồn trăm, chả mấy cái hồ sẽ có người lưu trú. Và rồi có khi sẽ có cả những tập đoàn hùng cường với những tờ giấy bạc nhiều tới mức có thể xếp tới mặt trăng đến và biến thành khu du lịch. Viễn cảnh đó là điều khó mà tránh khỏi, bởi đồng tiền có tha cái gì bao giờ. Và ừ đấy, cái yên an này sẽ là ký ức, sớm thôi. Nghĩ đến chạnh lòng quá, nhưng ta quá nhỏ bé ta làm gì được.

Một ẩn dụ cho ký ức là những cánh cung. Bạn giương một cánh cung, ngắm bắn, sau khi mũi tên bay đi, bạn nhìn theo nó mất hút, bạn đã mất nó rồi, cái duy nhất còn lại là cánh cung, dù sau bao trận chiến ngông cuồng trong đời, dù bạn đã tiêu xài bao nhiêu mũi tên, cái cánh cung vẫn còn lại. Bạn ngắm bắn vào mặt trăng bao nhiêu lần, mũi tên đáp xuống vầng sáng âm u bao nhiêu bận, thì vẫn cũng là một cánh cung ấy thôi. Bạn nhớ bao nhiêu thứ, có khi bao nhiêu thứ ấy chỉ thuộc về một người. Một buổi hoàng hôn dưới chân ngọn hải đăng ngắm thành phố lên đèn và mặt trời xuống núi với người đánh cá, cái lạnh của mùa đông Hà Nội chui trong chăn ấm ôm nhau, những vòng quay đều của bánh xe đạp lăn trên con đường hẹp giữa rừng dừa, những đất cát sình lầy của một ngày mưa băng qua con đường leo núi, những ly cà phê đen không đá không đường, chừng ấy ký ức tưởng rất khác nhau, nhưng đều là ký ức về cùng một người, cùng một cuộc tình, xếp đặt lại sẽ vừa khít như một bộ trò chơi.

Cuộc đào tẩu ký ức là cuộc đào tẩu khỏi một hố đen. Vật lý chứng minh rằng hố đen trì níu người ta bằng lực hút vô biên vô tận, ai đã tới chân trời hố đen thì khó lòng thoát ra, nhưng đồng thời vật lý cũng để ngỏ khả năng từ bờ bên kia của hố đen trở lại. Hà Nội tuần trước chiếu lại phim Mùa Ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Chuyện kể về ông Hòa và cái nhà của ông, nói đúng ra là cái nhà cũ nơi ông và cha ông, và mẹ, và người anh trai và người em gái từng sống. Cái nhà ấy đã thuộc về người khác từ lâu, ấy vậy mà ông cứ ngỡ nó vẫn còn là của mình. Nơi nay người ta tổ chức tiệc nhảy xập xình, xưa cha ông từng mở chiếc đĩa than với tiếng vĩ cầm vi vút. Và cả cây ổi sai trĩu quả mà cha ông vẫn thường bảo ông đi tươi nước, cây ổi còn ở kia mà, những trái xanh căng mọng nhuốm ánh mặt trời, ông ngửa cổ lên, nhập vào lòa xòa cành lá. Thế mà ký ức đột ngột thả ông đi như mở lồng cho con chim bay mất, con chim mất lồng, mất nhà, bơ vơ trơ trọi. Trí nhớ, người ta cứ hay dựa dẫm vào trí nhớ, có biết đâu trí nhớ mong manh như một mạng tơ, chỉ quờ tay một chút đã thành tan vỡ.

Ký ức làm sao mà cầm mà nắm, bởi nó không có hình thù cụ thể. Ký ức sống bằng cách ký sinh trên như sự vật sự việc hữu thanh hữu hình. Như ký ức ông nội tôi ngày đó, giờ còn lại dư ảnh trong chiếc băng cát xét mà mỗi độ giao niên ông thưởng mở: “Cành hoa tim tím bé xinh xinh đón xuân nồng. Rừng đào phong kín cánh mong manh nhớ hoa lòng.” Ở chữ “hoa”, tài tử Ngọc Bảo ngân dài một chút, cái ngân dài ấy sau đó Ánh Tuyết, Tùng Dương hay nghìn vạn người ca sĩ không ai bắt chước, cũng không ai học hỏi, cũng không ai có được. Nghe đến chữ “hoa” đó, tôi nhớ ông tôi. Trong bài hát cũ rinh rích, có bóng dáng ông tôi trong đó, những đêm tân xuân ông lọ mọ mở nhạc đón giao thừa, mà cứ phải bài này, cứ phải là tài tử Ngọc Bảo ấy, cứ phải là chiếc băng cát xét kia, thì mới được.

Nhưng mà thôi, năm mới đến rồi, sao cứ mãi bới lên chuyện cũ…

Hiền Trang

[Bài viết đã đăng trên Trà Sữa cho Tâm hồn]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *